Chương 1: Vấn đề cơ bản Phân tích ở đây bao gồm việc đo lường các chỉ số và từ đó vạch ra chiến lược để cải thiện tỷ lệ truy cập web cũng như tỷ lệ chuyển đổi mong muốn. Khi một người vào page của doanh nghiệp và sau đó trở thành một khách hàng, điều gì sẽ thúc đẩy quá trình đó? Tìm ra lời giải đáp chính là kết quả của quá trình phân tích. Thông thường, sẽ có 3 loại công cụ điển hình để phân tích số liệu từ các kênh Social Media bao gồm: công cụ phân tích từ chính nền tảng đỏ (In - platform Analytics), công cụ được chèn vào nền tảng đó (Integrated Analytics), và công cụ đo lường dựa trên KPI (Measure against KPIs). Tuy nhiên, trước khi bắt đầu, doanh nghiệp nên biết rằng các chỉ số chì hiệu quả nếu họ biết rõ ý nghĩa và thấy được tình trạng kinh doanh đằng sau những con số.
Nói cách khác, nếu doanh nghiệp chỉ biết thu thập thông tin mà không hiểu hết ý nghĩa của các con số này, hoặc thu thập những chỉ số không cần thiết thì hoạt động đánh giả và phân tích sẽ trở nên vô nghĩa. Bước 5: Quảng cáo Khi bạn có nhiều tiền hơn để phát triển hoạt động tiếp thị trên mạng xã hội, thì quảng cáo trên mạng xã hội là một lĩnh vực bạn có thể cân nhắc. Quảng cáo trên mạng xã hội cho phép bạn tiếp cận đối tượng rộng hơn những người theo dõi bạn. Các nền tảng quảng cáo trên mạng xã hội ngày nay rất mạnh mẽ đến mức bạn có thể chỉ định chính xác ai sẽ hiển thị quảng cáo của mình.
Bạn có thể tạo đối tượng mục tiêu dựa trên nhân khẩu học, sở thích, hành vi và hơn thế nữa của họ. Khi bạn chạy nhiều chiến dịch quảng cáo trên mạng xã hội cùng một lúc, bạn có thể cân nhắc thực hiện các thay đổi hàng loạt, tự động hóa các quy trình và tối ưu hóa quảng cáo của mình bằng công cụ quảng cáo trên mạng xã hội. 13 Đoàn Thị Trang – D17IMR01 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Vấn đề cơ bản 1. Mô hình hoạt động marketing qua phương tiện truyền thông xã hội Hình 1.
Mô hình hoạt động truyền thông - Chủ thể - Người gửi (Source/Sender): Đây là yếu tố khởi xướng việc thực hiện truyền thống. Có thể là một cá nhân nói, viết vẽ hay làm động tác. Yếu tố khởi xướng có thể là một nhóm người, một tổ chức truyền thông như cơ quan đài phát thanh, truyền hình, báo chí, thông tấn,. - Thông điệp (Message): Đây là yếu tố thứ hai của quá trình truyền thông.
Thông điệp có thể bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một các có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp (nguồn) và người tiếp nhận đều hiểu được. Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học kỹ thuật hay ngôn ngữ văn học nghệ thuật. Bằng bất cứ cách nào, một ý nghĩa nào đó cũng phải diễn tả bằng một ngôn ngữ hiểu được trong truyền thông.
Ví dụ: Đưa ra ví dụ về việc người nói đưa ra thông điệp không bằng một ngôn ngữ chung mà người nhận có thể hiểu được, có thể là bằng tiếng Hàn. - Kênh (Channel): Kênh truyền thông làm cho người ta nhận biết các thông điệp bằng các giác quan. Kênh truyền thông là cách thể hiện thông điệp để con người có thể nhìn thấy qua các thế loại in hay hình ảnh trực quan, nghe thấy được qua các phương tiện nghe, nhìn qua hình ảnh, truyền hình và những dụng cụ nghe nhìn khác như sờ, nếm, ngửi qua mẫu, hiện vật thí nghiệm. - Giải mã (Decode): là quá trình từng cá nhân bằng con đường riêng của mình làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được truyền đến.
Mỗi thông điệp được chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, thái độ của người tiếp nhận và cũng tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp. - Người/Nơi tiếp nhận thông điệp (Receiver): Đây là yếu tố thứ tư trong quá trình truyền thông. Đó là những người nghe, người xem, người giải mã, người giao tiếp. 14 Đoàn Thị Trang – D17IMR01 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Vấn đề cơ bản Hoặc có thể là một người, một nhóm, một đám đông thành viên của một tổ chức hay của đông đảo công chúng.
Mục đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được cặn kẽ thông điệp và có những hành động tương tự. Nói một cách khác, người cung cấp, khởi xướng truyền thông khi truyền thông điệp cho người tiếp nhận mong muốn họ biết được mình mong muốn thông tin gì, muốn việc làm của mình ảnh hưởng đến thái độ, và cách ứng xử của người tiếp nhận. Biết được đối tượng truyền thông là một yếu tố rất quan trọng trong việc tạo nên hiệu quả của quá trình truyền thông. Đối tượng truyền thông là con người.
Mỗi con người có thể trả lời, đáp ứng thông điệp của người khởi xướng tùy theo xu hướng, thái độ, trình độ học vấn, địa vị xã hội của riêng họ. Vì vậy, biết đối tượng truyền thông không phải là đơn giản. Người nhận tin có thể có các mức độ tiếp nhận thông tin như sau: • Hiểu thông điệp hoàn toàn • Hiểu một phần thông điệp • Hiểu thông điệp gần như trọn vẹn (trường hợp tối ưu) • Hoàn toàn không hiểu gì cả (không có truyền thông) - Phản hồi (Feedback): Truyền thông là quá trình hai chiều. Phản hồi chính là sự tác động ngược trở lại của thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin.
Phản hồi là khía cạnh quan trọng nhất của quá trình truyền thông, là công cụ mạnh mẽ cho phép hai đường truyền thống lại với nhau. Nó sẽ không còn tồn tại hoặc bị cản trở khi một trong hai bộ phận truyền thông bị vô hiệu hóa hoặc có sự chống lại của bộ phận tiếp nhận. Một hạn chế của hiện tượng truyền thông có thể xảy ra là hiện tượng không phản hồi. Nếu không có phản hồi, thông tin chỉ một chiều và mang tính áp đặt.
Ví dụ: Nếu bây giờ, nhóm thuyết trình đặt ra câu hỏi: “Các bạn có hiểu bài thuyết trình của nhóm ngày hôm nay không?” – không bạn nào gật đầu hay lắc đầu, xong nhóm thuyết trình lại hỏi: “Còn phần nào các bạn chưa hiểu?” – cũng không bạn nào tỏ thái độ gì (Hiện tượng không phản hồi) - Nhiễu (Noise): Nhiễu luôn tồn tại trong quá trình truyền thông. Đó là hiện tượng thông tin truyền đi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của tự nhiên và xã hội, phương tiện kỹ thuật,. gây ra sự sai lệch hay kém chất lượng về nội dung thông tin cũng như tốc độ truyền tin. Nhiễu là hiện tượng cần được xem xét và coi như một hiện tượng đặc biệt trong quá trình lựa chọn kênh để xây dựng nội dung thông điệp.
Các chỉ số đo lường hoạt động marketing qua phương tiện truyền thông xã hội Trên thực tế, có vô số cac hcir số đo lường thành tích marketing qua phương tiện truyền thông xã hội, chúng có thể được phân loại vào nhiều nhóm, tùy theo các mức độ đánh giá phản ứng của người tiêu dung, các kênh truyền thông xã hội, … Dựa vào bản chất của các thông số này có thể phân chúng thành 2 loại lớn: 15 Đoàn Thị Trang – D17IMR01 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Vấn đề cơ bản Thứ nhất là các thông số truyền thông (media metrics). Đo đạc các thông số loại này giúp các chuyên gia marketing đánh giá được công cụ truyền thông xã hội mà họ đang sử dụng có thu hút được sự quan tâm của khách hàng trên các cộng đồng mạng hay không. Có rất nhiều thông số truyền thông khác nhau song tựu chung lại có thể phân thành các nhóm lớn sau: Thông số đo lường về lượng truy cập (Traffic) Điển hình trong các thông số loại này là là số lượng người truy cập (unique view), số lần trang web được xem (pageview), ở đây là trang mạng xã hội, mạng chia sẻ, blog hay diễn đàn của doanh nghiệp. Đây là những thông số cơ bản nhất.
Với mỗi trang web truyền thông xã hội khác nhau có thể lại có những thông số đo lường về lượng truy cập cụ thể khác. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp muốn đo lường lượng truy cập tài khoản (được gọi là “channel” trên Youtube) có thể sử dụng 2 thông số: số lần tài khoản hay “channel” của doanh nghiệp được xem (Channel View) và tổng số lượt xem các video mà doanh nghiệp đã đăng tải lên Youtube (Total Upload View). Các doanh nghiệp Việt Nam nếu sử dụng mạng chia sẻ video Clip.vn cũng có thể sử dụng thông số “Số lượt xem” để biết về lượng truy cập. Thông số đo lường về mức độ gắn bó của người xem (Return On Engagement - ROE) Các thông số thuộc loại này rất đa dạng.
Có thể kể ra một số ví dụ như: thời gian người xem lưu lại trên trang web truyền thông xã hội của doanh nghiệp, lượng người click vào bài viết đăng tải trên blog, lượng người phản hồi lại thông tin cập nhật (tweet) của doanh nghiệp trên Twitter bằng hình thức hồi đáp (reply), lượng người nhận xét (comment) hay thể hiện sự thích thú (like) trên Facebook, lượng người tải xuống các ứng dụng Widget hay chuỗi các tập thông tin kĩ thuật số (Podcast), …. Mặc dù có thể mang các tên gọi và hình thức khác nhau tùy thuộc vào từng công cụ cụ thể nhưng nhìn chung các thông số loại này rất quan trọng. Chúng cho biết mức độ tương tác và gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp thông qua các công cụ truyền thông xã hội doanh nghiệp đang sử dụng. Đặc biệt, khi đo lường một số thông số loại này, doanh nghiệp phải chú ý đến không chỉ mặt “định lượng” mà cả mặt “định tính” của thông số đó.
Ví dụ, chỉ đo lường lượng người tham gia nhận xét, thảo luận các thông tin doanh nghiệp cung cấp trên mạng xã hội là chưa đủ, doanh nghiệp còn phải phân tích xem bao nhiêu phần trăm trong số các nhận xét đo là tích cực, bao nhiêu phần trăm là tiêu cực.