phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2: : Thực trạng chiến lược kinh doanh của công ty Thang máy Thyssenkrupp Việt Nam. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện chiến lược kinh doanh của công ty Thang máy Thyssenkrupp Việt Nam. 7 CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và lý thuyết cơ sở 1.
Khái niệm chiến lược, các cấp chiến lược của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về chiến lược “Chiến lƣợc” là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Strategos” dựng trong quân sự, nhà lý luận quân sự thời cận đại Clawzevit cũng cho rằng: Chiến lược quân sự là nghệ thuật chỉ huy ở vị trí ưu thế. Một xuất bản của từ điển Larous coi: Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để dành chiến thắng. Theo Johnson và Scholes: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. Theo Michael Porter thì “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty.
Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau. Cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”. Trong những năm 60 của thế kỷ 20, người ta bắt đầu ứng dụng chiến lược vào lĩnh vực kinh doanh – kể từ đó thuật ngữ: chiến lược kinh doanh ra đời và quan điểm về chiến lược kinh doanh phát triển theo xu thế chung. “Các chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung chiến lược là tập hợp những mục tiêu và chính sách cũng như kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó, nó cho thấy công ty đang hoặc sẽ thực hiện 8 các hoạt động kinh doanh gì và công ty sẽ hoặc phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh gì” 1.2 Các cấp chiến lược của doanh nghiệp Quản trị chiến lược được tiến hành tại nhiều cấp khác nhau trong một doanh nghiệp.
Các cấp quản trị chiến lược là những cấp, đơn vị trong hệ thống tổ chức có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chiến lược của riêng mình và nhằm đảm bảo góp phần thực hiện chiến lược tổng quát của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chúng ta có thể chia quản trị chiến lược theo 3 cấp: a. Cấp doanh nghiệp: - Cấp doanh nghiệp xây dựng chiến lược tổng quát. Chiến lược cấp công ty xác định ngành kinh doanh hoặc các ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành.
Tại mỗi ngành kinh doanh, xác định đặc trưng, đề ra các chính sách phát triển và những trách nhiệm đối với cộng đồng của doanh nghiệp. - Định hướng cho doanh nghiệp về các vấn đề tăng trưởng quản lý các thành viên, phân bổ nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác giữa các đơn vị thành viên. Xác định mong muốn của dịch vụ, sản phẩm của các lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia, xác định các ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ tiến hành kinh doanh. Cấp kinh doanh: - Cấp này còn gọi là SBU – Đơn vị kinh doanh chiến lược.
Chiến lược cấp cơ sở xác định những căn cứ để chúng có thể hoàn thành các chức năng và nhiệm vụ của mình, đóng góp cho việc hoàn thành chiến lược chung của công ty trong phạm vi mà nó đảm trách. - Tập trung vào việc cải thiện vị thế cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ doanh nghiệp trong ngành kinh doanh hoặc một kết hợp sản phẩm thị trường mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Cấp chức năng: - Đây là nơi tập trung hỗ trợ cho chiến lược công ty và chiến lược cấp cơ sở kinh doanh. Cấp này xây dựng các chiến lược cụ thể theo từng chức năng và lĩnh vực quản trị.
- Tập trung vào việc quản lý một các hiệu quả nhất các nguồn lực kinh doanh của mỗi Doanh nghiệp 1. Bản chất của chiến lược kinh doanh, các loại hình chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh là phác thảo hình ảnh tương lai cho doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động trên cơ sở khai thác các lợi thế cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh đề cập đến các mục tiêu cơ bản, dài hạn cũng như lựa chọn các phương án hành động, triển khai và phân bổ các nguồn tài nguyên để thực hiện mục tiêu đã xác định. Ngoài ra, chiến lược còn mang tính “động”.
Tính chất “động” của chiến lược thể hiện ở chỗ bản chiến lược không phải là bất biến mà có thể biến đổi. Do vậy các nhà quản trị không bao giờ được phép hài lòng với bản chiến lược đã xây dựng mà phải liên tục rà soát, đánh giá chiến lược còn thích ứng với môi trường kinh doanh luôn biến động để kịp thời điều chỉnh. Chiến lược kinh doanh là sự tập hợp một cách thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể nhất định. Chiến lược kinh doanh phản ánh các hoạt động của đơn vị kinh doanh bao gồm quá trình đặt ra mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó.2 Bản chất của chiến lược kinh doanh Một là chiến lược kinh doanh là sự thể hiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
10 Khi xây dựng chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích hoàn cảnh khách quan của mình. Mục đích của việc phân tích này để tìm hiểu những cơ hội và thách thức mà hoàn cảnh khách quan mang lại cho doanh nghiệp. Đồng thời cũng phải nghiên cứu những điều kiện chủ quan của doanh nghiệp để biết được những điểm mạnh và điểm yếu của mình. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phải kết hợp tốt những cơ hội mà hoàn cảnh khách quan mang lại với những điểm mạnh của doanh nghiệp, đồng thời phải có các giải pháp khắc phục cho những thách thức và điểm yếu của doanh nghiệp.
Do đó phải nghiên cứu vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ có như vậy mới có thể đưa ra chiến lược kinh doanh đúng. Nếu xác định không đúng vị thế cạnh tranh thì không thể đề ra chiến lược kinh doanh đúng. Hai là chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một mô thức kinh doanh của doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh là cương lĩnh hoạt động của doanh nghiệp, là phương thức sử dụng các nguồn lực, là căn cứ để xử lý mọi vấn đề của doanh nghiệp. Do đó, xét theo khía cạnh này, chiến lược kinh doanh là mô thức kinh doanh của doanh nghiệp. Ba là chiến lược kinh doanh là sự thể hiện quan niệm giá trị của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh là sự thể hiện quan niệm giá trị, tinh thần tiến thủ, ý chí ngoan cường của người lãnh đạo doanh nghiệp, phản ánh sự đánh giá của người lãnh đạo về hoàn cảnh khách quan, điều kiện chủ quan của doanh nghiệp.
Chỉ khi người lãnh đạo đánh giá đúng khả năng của doanh nghiệp mới có thể đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp. Nếu không, sẽ mang lại chiến lược kinh doanh sẽ sai lầm. Bốn là chiến lược kinh doanh là sự sáng tạo trong quản lý doanh nghiệp Sự sáng tạo trong quản lý có nghĩa là doanh nghiệp căn cứ vào mục tiêu nhất định, sắp xếp, hình thành một hệ thống quản lý mới hữu hiệu, có khả 11 năng cạnh tranh. Do đó việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải xuất phát từ tình hình thực tế của doanh nghiệp.
Đồng thời, sự sáng tạo về quản lý phải kết hợp chặc chẽ với sự sáng tạo về chế độ, sáng tạo về tổ chức, sáng tạo về kỹ thuật mới có thể phát huy tác dụng của chiến lược kinh doanh. Năm là chiến lược kinh doanh là kế hoạch hành động của doanh nghiệp. Xây dựng chiến lược kinh doanh là quan trọng nhưng thực hiện chiến lược còn quan trọng hơn nhiều. Nếu có chiến lược nhưng không thực hiện thì chiến lược đó trở thành vô nghĩa.
Muốn thực hiện được chiến lược thì toàn thể công nhân viên phải nắm vững chiến lược, phải biến chiến lược đó thành kế hoạch hàng năm, kế hoạch của từng bộ phận, thành hành động của mọi người và phải có tính khả thi.3 Các loại hình thức chiến lược kinh doanh Các loại hình chiến lược cơ bản là: (1) Chiến lược tổng quát; (2) Chiến lược kết hợp; (3) Chiến lược chuyên sâu; (4) Chiến lược mở rộng hoạt động và (5) Các loại chiến lược khác. Chiến lược kinh doanh tổng quát: - Có nhiệm vụ xác định hướng đi cùng với những mục tiêu chủ yếu cần đạt tới. Nội dung chiến lược tổng quát thường tập trung vào ba mục tiêu chủ yếu là khả năng sinh lợi, thế lực trên thị trường và an toàn trong kinh doanh. Khả năng sinh lợi: Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận.
Trong chiến lược kinh doanh, lợi nhuận được đo lường bằng các chỉ tiêu tương đối như tỷ suất lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận và bằng chỉ tiêu tuyệt đối là tổng lợi nhuận. Thế lực trên thị trường: Cạnh tranh là quy luật phổ biến, cạnh tranh luôn gắn liền với kinh doanh. Thế lực trên thị trường của doanh nghiệp được đo bằng các chỉ tiêu thị phần doanh nghiệp kiểm soát được, tỷ trọng hàng hóa của doanh nghiệp trong tổng lượng cung về hàng hóa, dịch vụ đó trên thị 12 trường, mức độ tích tụ và tập trung của doanh nghiệp, khả năng liên doanh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. An toàn trong kinh doanh: Kinh doanh luôn gắn liền với may rủi.2 Các chiến lược kinh doanh kết hợp: - Chiến lược kết hợp về phía trước: Kết hợp về phía trước liên quan đến việc tăng quyền sở hữu hoặc sự kiểm soát đối với các nhà phân phối hoặc các nhà bán lẻ.
Một phương cách hiệu quả để thực thi chiến lược kết hợp này là nhượng quyền. Chiến lược kết hợp về phía sau: Kết hợp về phía sau là một chiến lược tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát của các nhà cung cấp, đặc biệt trong trường họp khi các nhà cung cấp hiện tại của doanh nghiệp không thể tin cậy được, quá đắt, hoặc không thể thỏa mãn đòi hỏi của công ty.