CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược của Doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về chiến lược, chiến lược kinh doanh Chiến lược là phương hướng và quy mô của một tổ chức trong dài hạn: chiến lược sẽ mang lại lợi thế cho tổ chức thông qua việc sắp xếp tối ưu các nguồn lực trong một môi trường cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh là kế hoạch để làm thế nào một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới. Cho đến hiện nay, có rất nhiều những khái niệm khác nhau về chiến lược: - Theo Johnson và Scholes, trong điều kiện môi trường có rất nhiều thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, G.
- Kenneth Andrews là người đầu tiên tiếp cận chiến lược theo cách mới trong cuốn “The concept of Corporate Strategy”. Ông coi chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và điểm yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và những mối đe dọa. Ngày nay rất nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách này. Chiến lược kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản và tài chính nhằm mực đích nâng cao và đảm bảo quyền lợi thiết yếu của mình.David : “ Chiến lược kinh doanh là một khoa học nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”.
Học viên: Nguyễn Ngọc Hoàn 1 Để tài: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG (VCB) CHI NHÁNH HẠ LONG, GIAI ĐOẠN 2013 – 2018 Tóm lại: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp” (Quản trị chiến lược, 2012 – PGS.TS Ngô Kim Thanh). Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dựng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát. - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó.2 Đặc trưng của chiến lược kinh doanh - Chiến lược kinh doanh xác định rõ mục tiêu cơ bản phương hướng kinh doanh cần đạt tới trong từng giai đoạn và được quán triệt trong các hoạt động quản trị của doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh chải phác thảo phương hướng hoạt động trong dài hạn. Nó chỉ mang tính định hướng còn việc thực hiện và điều chỉnh sao cho hợp lí thì phải căn cứa vào môi trường và điều kiện kinh doanh trong giai đoạn đó. - Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm tận dựng tối đa các nguồn lực sẵn có và phát huy các nguồn lực tiềm năng, giành ưu thế trong cạnh tranh. - Chiến lược được phản ánh trong quá trình liên tục từ xây dựng, thực thi, đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp.
- Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, lợi thế so sánh. Học viên: Nguyễn Ngọc Hoàn 2 Để tài: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG (VCB) CHI NHÁNH HẠ LONG, GIAI ĐOẠN 2013 – 2018 - Mọi quyết định chiến lược đều chỉ tập trung trong nhóm quản trị viên cấp cao nhằm đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn và bảo mật thông tin trong cạnh tranh.3 Ý nghĩ của chiến lược kinh doanh với hoạt động của doanh nghiệp Thứ nhất, việc xác định chiến lược giúp các doanh nghiệp thấy rõ được mục đích và hướng đi của mình. Nó khiến nhà quản trị phải xem xét và xác định xem doanh nghiệp đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới vị trí nhất định bằng con đường ngắn nhất. Bên cạnh đó, các chiến lược cụ thể và rõ ràng sẽ khuyến khích nhà quản trị và nhân viên nắm vững những gì mình cần làm để có thể đạt được các mục tiêu trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Thứ hai, việc hoạch định chiến lược trước giúp cho nhà quản trị sẽ dự đoán được môi trường kinh doanh sắp tới. Môi trường kinh doanh mà các doanh nghiệp phải đối mặt ngày nay như các yếu tố giá cả nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ, các chính sách của chính phủ, hành động của đối thủ cạnh tranh,… thay đổi từng phút từng giây. Việc dự đoán môi trường kinh doanh sắp tới không những giúp cho doanh nghiệp hạn chế được những biến cố có thể xảy ra mà còn tận dụng được những cơ hội mà môi trường kinh doanh mang đến cho mình. Thứ ba, việc xây dựng chiến lược giúp các nhà quản trị gắn các quyết định của mình với môi trường kinh doanh, nắm rõ các nguồn lực, nâng cao hiệu quả các nguồn lực ấy.
Cuối cùng, phần lớn các nghiên cứu cho thấy rằng, những doanh nghiệp có tầm nhìn, chiến lược cụ thể, rõ ràng trong ngắn, trung và dài hạn sẽ đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn. Điều này không có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp khi đã hoạch định chiến lược thì sẽ chắc chắn thành công - thành công hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thực thi chiến lược, tiếp nhận thông tin phản hồi và điều chỉnh phù hợp…- mà nó hàm ý rằng những doanh nghiệp này sẽ trở nên chủ động hơn trong từng Học viên: Nguyễn Ngọc Hoàn 3 Để tài: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG (VCB) CHI NHÁNH HẠ LONG, GIAI ĐOẠN 2013 – 2018 bước đi của mình, nhanh chóng giành lợi thế khi cơ hội đến cũng như hạn chế bớt những rủi ro.2 Các loại hình chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp 1.1 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược Một là chiến lược cấp doanh nghiệp. Phạm vi áp dụng cho toàn doanh nghiệp. Chiến lược cấp doanh nghiệp xác định rõ các mục đích, các mục tiêu của DN, của ngành kinh doanh mà ngành đang theo đuổi, tạo ra các chính sách và các kế hoạch cơ bản để đạt các mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong một doanh nghiệp có nhiều đơn vị kinh doanh thì chiến lược cấp doanh nghiệp sẽ tập trung phân phối các nguồn lực giữa các hoạt động kinh doanh đó, thúc đẩy chúng phát triển. Hai là chiến lược cấp đơn vị kinh doanh – SBU (Strategy Business Unit). Chiến lược ở cấp độ này lựa chọn sản phẩm cùng thị trường mục tiêu cho một ngành kinh doanh riêng lẻ của doanh nghiệp. Nó giúp xác định các SBU với vị thế hiện tại sẽ cạnh tranh như thế nào so với các đối thủ cạnh tranh.
Ngoài ra nó còn đề ra mục tiêu cho các SBU để đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu cấp doanh nghiệp. Ba là chiến lược cấp chức năng. Đây là chiến lược của các phòng ban, bộ phận chức năng trong doanh nghiệp đơn ngành hay trong mỗi đơn vị kinh doanh như chiến lược nhân sự, chiến lược sản xuất, chiến lược marketing, chiến lược tài chính. Nó có vai trò hỗ trợ chiến lược cấp doanh nghiệp và chiến lược của các SBU.2 Căn cứ vào lợi thế cạnh tranh của chiến lược hướng tới Một là chiến lược dẫn đầu về chi phí.
Đây là chiến lược khi mục đích theo đuổi của doanh nghiệp là tối thiểu hóa chi phí để tạo ra lợi thế cạnh tranh với đối thủ. Chiến lược này giúp cho doanh nghiệp có thể đặt giá thấp hơn so với đối thủ mà vẫn có lợi hoặc thu lợi cao hơn vì chi phí thấp hơn mà giá không đổi. Giá thấp hơn sẽ hấp dẫn khách hàng đến với sản phẩm nên thường áp dụng khi muốn chinh phục một thị trường ở phạm vi rộng lớn. Điểm yếu của chiến lược này nằm ở khả năng hạ thấp chi phí của Học viên: Nguyễn Ngọc Hoàn 4 Để tài: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG (VCB) CHI NHÁNH HẠ LONG, GIAI ĐOẠN 2013 – 2018 đối thù và doanh nghiệp không thể theo dõi được thị hiếu của người tiêu dùng.
Các doanh nghiệp Trung Quốc là những người đi đầu trong chiến lược này. Nó cho phép tận dụng các nguồn lực sẵn có tại đây. Và các doanh nghiệp Trung Quốc là tránh rủi ro bằng cách tạo ra sự khác biệt rất lớn về giá và nhái mẫu của các sản phẩm bán chạy trên thị trường. Hai là chiến lược khác biệt hóa.
Đây là chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng nhận ra là độc đáo nhất theo quan điểm của họ. Doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt hóa khi tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mà doanh nghiệp khác không có được. Lợi nhuận của người khác biệt là nhờ vào đặt giá cao, chênh lệch giá tương ứng với sự chênh lệch về chất lượng sản phẩm. Sự khác biệt của sản phẩm phải đủ lớn để tạo ra lợi thế cạnh tranh, thường áp dụng cho sản phẩm công nghệ.
Sản phẩm chiến lược này thường chỉ hướng tới một phân đoạn thị trường hay khách hàng nào đó. Doanh nghiệp áp dụng thành công chiến lược này là Apple với các sản phẩm công nghệ cao, tính năng mới nhất. Áp dụng giá “hớt váng” Apple hướng tới phân khúc khách hàng có tiềm lực kinh tế và sẵn sàng chi trả để là người đầu tiên sử dụng sản phẩm khi mà giá còn rất cao. Chiến lược này đòi hỏi hãng phải duy trì được sự khác biệt lớn và khả năng có sản phẩm thay thế là rất nhỏ hoặc phải luôn đổi mới sản phẩm.
Ba là chiến lược trọng tâm hóa. Chiến lược này chỉ hướng tới một nhóm hữu hạn người tiêu dùng. Doanh nghiệp theo đuổi chiến lược này chỉ chú trọng vào phục vụ thị hiếu của một nhóm khách hàng. Phân đoạn thị trường này có thể được xác định theo tiêu thức địa lí, loại khách hàng hay một nhánh của dòng sản phẩm.
Khi đã chọn được phân đoạn thị trường, doanh nghiệp có thể theo đuổi chiến lược tập trung thông qua khác biệt hóa hay chi phí thấp.