Chương 1: Một số lý luận về cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh của một số hãng hàng không giá rẻ trên thế giới 6 (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam Chương 2: Môi trường kinh doanh hàng không giá rẻ ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp chiến lược cho các hãng hàng không giá rẻ Việt Nam.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CHIẾN LƢỢC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ HÃNG HÀNG KHÔNG GIÁ RẺ TRÊN THẾ GIỚI Trước tiên, để đánh giá được thực trạng môi trường hàng không giá rẻ và xây dựng chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam, cần hiểu thế nào là cạnh tranh và những yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Đề tài xin khái lược một số lý thuyết về cạnh tranh ứng dụng trong đề tài nghiên cứu này.1 Một số lý luận về cạnh tranh, chiến lƣợc cạnh tranh, phân đoạn thị trƣờng 1.1 Một số lý luận về cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv.điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi.
Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv. Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ 8 (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận.
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình” Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) thì cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition). Ba tác giả Mỹ khác là D.Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết: Một cạnh tranh hoàn hảo, là nghành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua.
Cùng quan điểm như trên, R.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam Các tác giả trong cuốn “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh”, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho là cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua. Ở Phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó. Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian.
Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây. Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau: - Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiên và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tưng tự có cùng mục đích 10 (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận.
Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình. - Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ. Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông lệ kinh doanh ở trên thị trường. Còn giữa người mua với người mua, hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua.
- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc) hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh). Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng thời gian không nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một nước, giữa các nước) Như vậy, xét cho cùng, có thể coi khái niệm cạnh tranh là sự ganh đua, là sự giành giật giữa các cá nhân, tổ chức có liên hệ với nhau ít nhiều về mặt lợi ích nhằm giành giật khách hàng của nhau và mục đích cuối cùng là giành được lợi thế cạnh tranh bền vững. Nhìn chung mặc dù cạnh tranh có thể đem đến sự thất bại của doanh nghiệp này hay thành công của doanh nghiệp khác, nhưng xét trên tổng thể nền kinh tế thì cạnh tranh giúp cho sản phẩm phát triển, thị trường phát triển. Thông qua đó sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nói riêng và toàn xã hội nói chung.2 Các cấp độ cạnh tranh 11 (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam Theo quan điểm Marketing, cạnh tranh có thể chia ra làm 4 cấp độ sau đây: Cạnh tranh mong muốn Cạnh tranh mong muốn hay còn gọi là cạnh tranh khác ngành.
Đây là sự cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh có mong muốn thoả mãn các nhu cầu cụ thể khác nhau của khách hàng trên cơ sở cùng một quĩ mua sắm nhất định. Cạnh tranh ngành hàng Đối thủ cạnh tranh là những hàng hoá dịch vụ khác nhau cùng thoả mãn một nhu cầu cụ thể của khách hàng. Chúng chính là những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau trong tiêu dùng để thỏa mãn một nhu cầu, mong muốn cụ thể, nhất định, giống nhau của khách hàng. Tính chất và mức độ cạnh tranh giữa các ngành hàng này chủ yếu là do đặc thù về tính hữu ích, công dụng của sản phẩm tạo ra là chính.
Cạnh tranh chủng loại Đây chính là sự cạnh tranh giữa những kiểu hàng hóa khác nhau trong cùng một ngành hàng. Những sản phẩm hàng hóa khác nhau này có thể là do các doanh nghiệp khác nhau sản xuất, cũng có thể do cùng một doanh nghiệp sản xuất. Cạnh tranh nhãn hiệu Đây chính là sự cạnh tranh giữa những kiểu, dạng hàng hoá giống nhau thoả mãn cùng một mong muốn cụ thể như nhau, nhưng có nhãn hiệu khác nhau. Thông thường, ở cấp độ cạnh tranh nhãn hiệu, qui mô khách hàng mục tiêu bị thu hẹp hơn do đó tính chất cạnh tranh khốc liệt hơn.3 Lợi thế cạnh tranh quốc gia Lợi thế cạnh tranh quốc gia là vấn đề được nhiều nhà kinh tế học quan tâm, trong số đó lí luận về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal Porter 12 (LUAN.Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Nam được coi là nền tảng lí thuyết cho lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương”(1). Các yếu tố quyết định của mô hình là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có hai biến số bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ. Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể.