Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường 1. Chi trả Dịch vụ môi trường (PES): - Theo định nghĩa cơ bản của Mayrand và Paquin (2004): Là tạo ra lợi ích cho các cá nhân và cộng đồng để bảo vệ các dịch vụ môi trường bằng cách bồi hoàn cho họ khoản chi phí phát sinh từ việc quản lý và cung cấp những dịch vụ này.
- Theo định nghĩa kinh điển của Wunder (2005): Là một giao dịch tự nguyện đối với một loại dịch vụ môi trường cụ thể.giữa ít nhất một bên sử dụng dịch vụ môi trường và một bên cung ứng dịch vụ môi trường khi và chỉ khi bên cung ứng dịch vụ môi trường có khả năng cung cấp dịch vụ (trong những điều kiện cụ thể). Môi trường rừng: Bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: Bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. Dịch vụ môi trường rừng: Là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân (Nghị định 99/2010/NĐ-CP).
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES): Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: - Là việc người sử dụng dịch vụ môi trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường (người được chi trả). - Chi trả trực tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng có khả năng và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng không thông qua tổ chức trung gian. Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và cung ứng dịch vụ môi trường rừng phù hợp với quy định tại nghị định này, trong đó mức chi trả không thấp hơn mức do Nhà nước quy định đối với cùng một loại dịch vụ môi trường rừng.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: - Chi trả gián tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; - Chi trả gián tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng mà thông qua tổ chức trung gian theo quy định. Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước, giá dịch vụ môi trường rừng do Nhà nước quy định. Dịch vụ môi trường rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng Mặc dù giá trị môi trường đã được khẳng định và nghiên cứu từ lâu song chúng thường được coi là thứ hàng hóa công cộng. Mọi người đều có thể tự do tiếp cận, tự do sử dụng và hưởng lợi từ giá trị môi trường rừng.
Tình trạng ấy, nhất là ở những nước nghèo, đã không khuyến khích người lâm 5 nghiệp bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng, dẫn đến thiệt hại cho nhiều ngành sản xuất và đời sống nói chung. Thực tế đó đã buộc người ta phải hợp tác với nhau giữa người làm rừng và những người hưởng lợi chính từ giá trị môi trường rừng, chia sẻ với nhau trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển những giá trị môi trường rừng. Trong quá trình đó những giá trị môi trường rừng được phân tích, lượng giá, mua bán, trao đổi như những hàng hoá và dịch vụ khác. Người ta gọi những lợi ích môi trường của rừng được đưa ra trao đổi, mua bán như vậy là dịch vụ môi trường rừng.
Những chính sách khuyến khích việc trao đổi, mua bán giá trị dịch vụ môi trường rừng được gọi là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đến nay trên thế giới đã có nhiều chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES). Chúng được chia thành nhóm các chương trình PES tự nguyện và PES chính phủ. Trong chương trình PES tự nguyện, cả nhà cung cấp dịch vụ môi trường và người sử dụng dịch vụ đều tự nguyện trên cơ sở hợp đồng.
Ngược lại, trong các chương trình PES chính phủ tài trợ thường chỉ tự nguyện ở bên nhà cung cấp, còn người sử dụng dịch vụ môi trường rừng sẽ chi trả qua các dạng phí và lệ phí bắt buộc. Có thể kể đến một số chương trình PES tự nguyện ở Los Negros Bolivia (Asquith et al., 2008), ở Pimampiro Ecuador (Wunder and Albán, 2008), ở Vittel Pháp (Perrot-Maître, 2006), và một số chương trình PES chính phủ như chương trình bảo vệ đất dốc ở Trung Quốc (Bennett, 2008), Chương trình PES ở Costa Rica (Pagiola, 2008), chương trình PES ở Mexico (Muñoz- Piña et al., 2008-this issue), chương trình dịch vụ bảo tồn ở Mỹ (Claassen et al., 2008), chương trình vùng nhạy cảm môi trường và sơ đồ quản lý quốc gia ở Anh (Dobbs and Pretty, 2008), dự án mô hình Northeim ở Đức (Bertke and Marggraf, 2004), chương trình Wimmera ở Úc (Shelton and Whitten, 2005), chương trình tương tự chi trả dịch vụ môi trường ở CAMPFIRE, Zimbabwe (Frost and Bond, 2008), chương trình hoạt động vì nước ở Nam Phi (Turpie et 6 al. Phân tích thông tin về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới cho phép đi đến một số nhận xét sau: - Cho đến nay các chương trình PES chủ yếu vẫn là các chương trình chính phủ. Thực tế, người làm rừng ít có khả năng quản lý được giá trị dịch vụ môi trường rừng nên để thực hiện được chi trả dịch vụ môi trường rừng thường cần sự hỗ trợ của nhà nước và khi đó việc chi trả dịch vụ môi trường rừng được xem là bắt buộc.
- Các chương trình PES đều được hình thành trong những năm gần đây, sớm nhất là chương trình dịch vụ bảo tồn ở Mỹ được khởi xướng năm 1983, còn lại chủ yếu từ những năm 90 trở lại đây. - Mục tiêu của PES rất đa dạng, trong đó có bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ đất ướt, bảo vệ đất, bảo vệ động vật hoang dã, kiểm soát sự nhiễm mặn, tích lũy Carbon, v. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là các chương trình bảo vệ nguồn nước. Đây là một trong những hiệu quả môi trường quan trọng nhất của rừng.
Các chương trình PES tự nguyện chủ yếu hướng vào bảo vệ nguồn nước. - Các chương trình PES ưu tiên cho các hoạt động bảo tồn rừng, trồng rừng mới và tái trồng rừng, công nghệ mới trong chăn nuôi bò sữa, nông lâm kết hợp, canh tác nông nghiệp thân thiện, bảo vệ đa dạng sinh học, thay đổi sử dụng đất, bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, loại trừ sinh vật xâm hại v. Tuy nhiên, tập trung nhiều nhất vẫn là bảo tồn rừng, trồng rừng và phát triển nông nghiệp thân thiện môi trường. - Đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng gồm nhiều thành phần khác nhau từ chính quyền địa phương, sở ban ngành địa phương, tập đoàn điện lực, chính quyền Trung ương, cơ quan lâm nghiệp, chính phủ, quỹ tư nhân, tài trợ quốc tế, người dân sử dụng nước.
Phần lớn trong số họ là các tổ chức và cơ quan chính phủ và phi chính phủ. 7 - Đối tượng hưởng lợi từ PES là người sử dụng nguồn nước ở địa phương, nông dân, người không sử dụng đồng hồ đo nước, cơ quan tổ chức trên lưu vực sông, người sử dụng nước ở hạ lưu, khách du lịch, công đồng bảo tồn toàn cầu v. Nhìn chung, đối tượng được hưởng lợi là cả cộng đồng và toàn xã hội. - Đối tượng khởi xướng PES chủ yếu là các chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức hưởng lợi, chính quyền Trung ương, Bộ Tài nguyên nước, Lâm nghiệp và Môi trường, các trường đại học, chính quyền địa phương v.
Đây là những cơ quan và tổ chức có khả năng liên kết và hỗ trợ đàm phán hoặc ra quyết định, lập chính sách v. - Vùng thực hiện PES chủ yếu là các vùng thượng nguồn lưu vực sông, đất dốc vùng đầu nguồn, vùng đất cao nguyên, đồng cỏ, ven biển, đất cộng đồng và quy mô toàn quốc. Như vậy, một số chương trình tập trung vào những vùng sinh thái nhạy cảm, còn gần 50% chương trình có quy mô toàn quốc. - Hình thức của PES phần lớn là chi trả tiền mặt thông qua các tổ chức hoặc qua cơ quan của chính phủ.
Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng dao động trong phạm vi rộng từ một vài đến 200 USD/ha/năm. Mức chi trả thường phụ thuộc nhiều vào kết quả đàm phán giữa người cung cấp và người chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nó được hiểu là một phần chứ không phải toàn bộ giá trị dịch vụ môi trường rừng. - Thời gian chi trả thường là vào những thời điểm nhất định trong năm theo hợp đồng hoặc theo quy định của chính phủ.
Việc chi trả ở hầu hết các chương trình là theo loại rừng và điều kiện lập địa. Có mức chi trả cao nhất là các rừng nguyên sinh, rừng tự nhiên, rừng ở những nơi có nhu cầu phòng hộ cao. - Thời gian kéo dài của các chương trình PES ít nhất là 5 năm, một số chương trình kéo dài 10-20 năm. Có những chương trình không hạn định thời gian.
8 Trên cơ sở phân tích về nhận thức kiến thức và thực tiễn áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng của thế giới có thể rút ra một số kết luận áp dụng cho Việt Nam như sau: - Chi trả dịch vụ môi trường rừng là công cụ quan trọng để thúc đẩy quản lý rừng tốt hơn ở các vùng đầu nguồn, những vùng sinh thái nhạy cảm.