Chương 1 TÒNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về sức khoẻ vả dịch vụ y tế 1. Định nghĩa về sức khoẻ Đầu thế kỷ XX đã có nhiều định nghĩa vê sức khoẻ, các khái niệm lúc bấy giờ cho rằng sức khoẻ là trong cơ thể không có bệnh. Năm 1948 Tổ chức Y tế thế giời đã có định nghĩa về sức khoe, “Sức khoé là tình trạng khoẻ mạnh cùa các cơ quan trong cơ thế’’ (R.
Theo tuyên ngôn của TCYTTG tại Alma-Ata năm 1978 thi “ Sức khoè là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, linh thần và xà hội mà không chi giói hạn ở việc không mắc bệnh hoặc thương tật”. Năm 1986, hội nghị Ottawa đã mờ rộng định nghía về sức khoè cùa TCYTTG trong đó có tính đén “quyền con người”, “sự báo vệ của xã hội”, “thu nhập tối thiểu”, “nhà ở hợp lý”. Tuyên ngôn Alma-Ata nhấn mạnh "Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia với tư cách cả nhản hoặc tư cách tập thề vào việc hoạch định vá thực hiện chăm sóc sức khoe cho cuộc song cùa riêng mình” [20], [40], 1. Dịdỉ vụ khám, chữa bệnh nội trú Khám, chửa bệnh nội trú là trường hợp khám, diều trị hoặc sử dụng dịch vụ chữa bệnh qua một đêm tại các cơ sở y tế.
Các cơ sở KCB nội trú đa phần là các cơ sờ y tể công lập từ tuyến trung ương đến địa phương. Tuy nhiên hiện tượng quá tải tại khu vực bệnh viện công lập, sự đầu tư nâng cấp cà về vật chất trang thiết bị cũng như về đội ngũ cán bộ y tế cũng chưa dãp ứng được nhu càu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoè nhân dân. Các bệnh viện tư nhân ra đời với sự đẩu tư lớn về các trang thiết bị kỹ thuật và có sự chuẩn bị về nhân lực đã góp phần làm giảm tài tại các bệnh viện còng lập. Mặc dù vậy tỷ lệ bệnh viện ngoài công lập chi chiếm 5,1% so với bệnh viện công lập.
tỳ lệ này rất thấp so với một số nước trong khu vực như; Thái Lan là 29,7%; Philipine là 6 67%; Indonesia là 42% và Singapore ỉả 52% [37]. Các bệnh viện công lập vả ngoải công lập đã được đẩu tư trang thiết bị hiện dại, đặc biệt là các trang thiết bị dùng cho chuyên môn sâu, cán bộ y te có trình độ vả kinh nghiệm. Dịch vụ khám, chửa bệnh ngoại trú KCB ngoại trú ỉà trường hợp khám, điều tộ hoặc sử dụng dịch vụ chửa bệnh không phải qua một đêm tại cơ sở y tế vả những người tự mua thuốc điều trị. Hiện nay, việc sử dụng dịch vụ K.CB ngoại trú cùa ngưừi dàn ở các cơ sở còng lập chiếm 39,8%, ờ các cơ sở ngoải công lập là 60,2%.
Năm 2004, theo báo cáo tồng hợp của Bộ Y tế về hoạt dộng HNYTN, khu vực y té ngoài công lập đã KCB khoảng 24.178 lượt người, cấp cửu 7.295 trường hợp, chuyền viện 119.599 trường hợp [37]. Năm 2005, các cơ sở y tể công lập đã KCB cho 166.637 lưựt người trong đó KCB ngoại trú khoảng 6-139.105 lượt người [7]. Đảng vả Nhà nước đã nhận thấy vai trò vả sự đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoè nhân dân cùa các cơ sở HNYTN. Nghị quyết 46-NQ-TW cùa Bộ chính trị cùng như Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 cúa Chính phú về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt dộng giáo dực, y tế.
văn hoá và the dục, thế thao, khẳng dịnh quan điểm cùa Đảng và Nhà nước ta quyết tầm đầy mạnh hơn nữa hoạt động xã hội hoá về y tế ưong tỉnh hình mới, trong đó HNYTN là ‘'Khuyến khích các cá nhân, to chức trong vờ nước ngoài hoạt động từ thiện, cung cấp hỗ trợ các thiểt bị y tể và ho trợ khảm, chừa bệnh, mớ bệnh viện, phòng khám íư nhân, bác sỹ gia đỉnh, thực hiện chính sách bỉnh đằng giữa khu vực y te công lập vá khu vực y tể ngoài công lập vê hoạt động chuyên môn, thi đua khen thưởng, đào tạo, bồi dirởng cán bộ 2. Sự lựa chọn cơ sởy tể và sử dụng dịch vụ y tế Các cơ sở y tể công lập có mức độ bao phủ rất cao, theo Niên giám Thống kê y tế năm 2004 khu vực nhủ nước có 13.366 cơ sở KCB với 188.906 giường bệnh trong đó 877 bệnh viện, 970 phòng khám đa khoa khu vực; 63 phòng khám chuyên khoa; 11357 Trạm Y tể xã [6]. 7 Trước năm 1989 đất nước ta vừa trái qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lược vả bước vào thời kỳ kiến thiết đất nước, điều kiện về cơ sở vật chất cũng như dội ngủ cán bộ thầy thuổc vô cùng thiếu thốn, các hoạt động của Ngành Y tế chủ yếu là dựa vào Ngân sách nhà nước và một sổ nguồn viện trợ từ nước ngoài, Ngân sách cho y tế chì đủ trả lương cho cán bộ y tế, chi phí hành chính, duy lu sữa chừa nhò nên các cơ sở y tể ngày càng bị xuống cấp cà về cơ sở hạ tẩng vá trang thiết bị y tế, đặc biệt là các cơ sở y tế tuyến huyện, xâ, Trong thời kỳ này, người dân chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là các cơ sờ y tế công lập theo tuyến. Người bệnh phãi tự lo mua ngoài phẩn lớn thuốc và vật lư kỳ thuật y tế để chữa bệnh theo chỉ định của thầy thuốc.
Năm 1993 Pháp lệnh Hành nghề Y Dược tư nhân chính thúc được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn và năm 2003 Chủ tịch nước cõng bổ Pháp lệnh Hành nghề Y Dược tư nhân mới để cập nhật những qui định cho phù hợp với tình hình phát triển cùa khu vực ngoài còng lập trong Ngành Y tế hiện nay. Sự phái triển cùa khu vực y tể tư nhân cho phép người dân cỏ sự lựa chọn nơi KCB, chính sách đổi mới không chi lựa chọn khám tại cơ sở tư nhân mà còn mở rộng lựa chọn khám tại tuyển khác với tuyên cơ sở. Những hạn ché của việc chuyền tuyển được loại bỏ, người dân có thể đến bệnh viện trực tiếp vả được tiếp xúc với dịch vụ y tể có chất lượng và chuyên môn cao. Tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cũng có những mặt trái lả các bệnh viện tuyến trên bi quả tải do vượt tuyến, chì phí KCB tạì các cơ sờ y tế lư nhân thường cao hơn rất nhiều lần tại cơ sờ y té công ỉập.
Hệ thong ỵ te công lập ngày càng dược nâng cao về chất lượng và số lượng, đặc biệt là việc củng cô và hoán thiện mạng lưới y lể cơ sờ cà về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ. Xây dựng và nâng cấp các bệnh viện, nhất là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và huyện đe có đù khả năng giải quyểt một cách cơ bản nhu cầu KCB của nhân dân ngay tại địa phương. 8 Nhu cầu KCB cùa nhân dân gia tăng về sổ lượng, chất lượng, người dân vượt tuyến để lựa chọn các cư sở y lể có uy tín dẫn đến tình trạng quá quá tải kéo dài vả làm tăng áp lực của xã hội đổi với công tác KCB.023 bệnh viện trong đó có 977 bệnh viện công lập chiếm 95%; có 136,798 giường bệnh trong đó tỳ lệ giường bệnh công lập chiếm 97. số người bệnh khám có thẻ BHYT là 1.000 người, tăng 17.5% so với năm 2004 là 1.1 triệu trẻ em dưới 6 tuổi và 744.183 người nghèo được diều trị miễn phỉ [39].
Tình hình sư dụng chấn đoán cận lâm sàng năm 2004-2005 Đơn vị: triệu lượt Số TT Nội dung Nãm 2004 Năm 2005 Tỷ lệ % 1 XN sinh hoá 35.0 2 XN huyêt học 54.6 6 Chụp City Scaner, MRl 0.6 7 Nội soi chần đoán 0.1 (Nguôn: Báo cáo kiêm tra 720 bệnh viện rtãm 2005 - Kụ Điêu trị, Bộ 1' tê) Các TTYT chuyên sâu dã dược triển khai tại nả Nội, thành phố Hồ Chí Minh, miền Trung và mờ rộng tớí các chuyên khoa hảng đẩu để tạo khả năng chuyển giao kỹ thuật theo ngành. Nhiều kỳ thuật hiện dại về diều trị, chẩn đoán, phục hồi chức nẫng ngang tẩm với trình dộ y học cùa cảc nước khu vực dã được áp dụng như: kỹ thuật mổ tim hở, nong mạch vành, tản sỏi ngoài cơ thế, mổ Phaco, siêu âm Doppler tim, mạch máu, City Scaner, chụp cộng hưởng lừ. Nảm 2004, Há Nội có tổng dân số là 3.075 co sư hành nghề y lư nhân; có 41 bệnh viện và phòng khám đa khoa khu vực; 229 Trạm Y tế xã phường với 2.676 lượt khám bệnh, 38.896 ca phầu thuật, 4.259 lượt xét nghiệm, 31.745 lượt chụp cát lớp, 216.261 lượt siêu âm [6].298 lượt người, 475.122 lần xét nghiệm, 69.189 lượt chụp X-quang, 61.836 lần siêu âm, 9 có ĩ,866 bệnh nhân lao phổi, 118 bệnh nhân sốt rét, 742 bệnh nhân bướu cồ đơn thuần, 63 người mẳc bệnh phong, 7.608 bệnh nhân HĨV/AỈDS [25]. Chi phí cho các chẩn đoán cận lâm sàng và thuốc điều trị đối với mỗi lan KCB cùa người dân là rất lớn và trở thành gánh nặng đối với mõi gia dinh và cộng đồng, dặc biệt là đồi với nhừng gia đình nghèo, gia dinh có người mác bệnh mạn tính.
Khái niệm về chi phí y tế, một sổ chính sách tài chính y tế 3. Khái niệm về chi phí y tể Chi phí y tể bao gồm chi phí trực tiếp như khám, chừa bệnh, nằm viện, mua thuốc, xét nghiệm và các chi phi gián tiểp như đĩ lại, ăn ở của bệnh nhân vả người nhà, quà biểu cho các nhân viỂn y tế và các khoản khác. Chi phỉ cho các dịch vụ y tể không chi là một yếu tố quan trọng có V nghĩa quyết định sử dụng dịch vụ vả lựa chọn cơ sở y tế mà còn ành hưởng đển mức sổng và mức dộ nghèo đói của người dân. Chi phí cho y tể của hộ gia đinh có liên quan rất mật thiết đến sự công băng trong CSSK, gánh năng chi phí y tế là nguyên nhân hảng đầu làm cho những người có mức sống thấp không liếp cận được với các dịch vụ y tế.
Mửc chi cao cho KCB là một nguyên nhân quan trọng đưa người dàn vào cành nghèo và làm cho người nghèo càng nghèo hơn và nghèo đói dẫn tới tình ưạng sức khoè kém. Chi phí KCB lả các chi phí do người dân phải chì trà cho một đựt diều trị bao gồm: chi phí khám bệnh, chi phỉ cho các chần đoán cận lâm sàng, chí mua thuốc diều trị, chi phí ăn ở đi lại. Chi phí KCB trực tiếp lả những chi phí bao gồm phi khám, chữa bệnh, nằm viện, mua thuốc, xét nghiệm. Một số chính sách tàỉ chính 3.