Chương 1. Sự ra đời của chèo tân thời và tác giả Nguyễn Đình Nghị - người chủ soái của chèo tân thời. Chương 2: Những yếu tố liên quan đến sự cách tân kịch bản chèo tân thời. Chương 3: Những cách tân về kịch bản chèo tân thời và ý nghĩa của nó đối tiến trình hiện đại hóa văn học sân khấu Việt Nam (chèo).
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số bảng biểu và tranh ảnh để giới thiệu về loại hình sân khấu chèo, đặc biệt là các tư liệu về giai đoạn chèo tân thời (chèo văn minh, chèo cải lương). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CHÈO TÂN THỜI VÀ TÁC GIẢ NGUYỄN ĐÌNH NGHỊ - NGƢỜI CHỦ SOÁI CỦA CHÈO TÂN THỜI 1.1 Sự ra đời của chèo tân thời 1.1 Điều kiện lịch sử xã hội của cuộc cách tân chèo tân thời Do hoàn cảnh lịch sử, cụ thể là về điều kiện kinh tế xã hội của nước ta thời thực dân Pháp thống trị, nghệ thuật chèo ở đầu thế kỉ XX đã rơi vào tình trạng bế tắc và có nguy cơ mai một. Nhiều làng quê nghèo đói đến mức chỉ có thể làm cúng bái tế Thành hoàng làng mà thôi, còn về phần lễ hội thì hầu như không mở được. Đó là tình trạng của các gánh hát chèo ngày càng không được đón mời như trước đó.
Hoàn cảnh lịch sử xã hội đưa đẩy khiến cho một số nghệ sĩ chèo dân gian đã mạnh dạn đưa phường gánh ra chốn thành thị nhưng cũng không được đón chào bởi thị hiếu khán giả đô thị không ưa chuộng lối hát và diễn của chèo sân đình. Mặt khác, lúc này văn hóa Pháp cũng du nhập vào Việt Nam theo những người Pháp, cùng với chính sách đồng hóa dưới chiêu bài “khai hóa văn minh” của thực dân Pháp khiến cho môi trường văn hóa ở các đô thị biến đổi. Trong điều kiện mới của sự tiếp biến văn hóa mà trong đó có mặt tiêu cực nhiều hơn mặt tích cực, chèo muốn tồn tại ở các đô thị nhất là ở Hà Nội - nơi có đông khán giả xem diễn trò thì phải chấp nhận một cuộc cách tân. Về phía khán giả, bên cạnh mặt tiêu cực là chịu ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, cũng có mặt tích cực là đòi hỏi sân khấu chèo không thể chỉ dừng lại ở việc giáo huấn chung chung, mà phải phản ánh được đời sống xã hội và con người đương thời.
Đòi hỏi chính đáng này thôi thúc những nghệ sĩ chèo đầu thế kỷ XX phải tiến hành một cuộc cách tân chèo. Để thích ứng với hoàn cảnh đó, một số người có mong muốn chấn hưng nghệ thuật dân tộc, đồng thời là sự tiếp nhận các cái mới được du nhập đã đề xướng phong trào “chèo văn minh”, đưa các phường chèo sân đình vào diễn ở các rạp hát bằng cách bổ sung trang trí bằng phông cảnh. Tuy nhiên, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chèo văn minh cũng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của khán giả thị dân. Vì vậy mà soạn giả Nguyễn Đình Nghị đã đề xướng và trực tiếp làm chủ soái của phong trào “chèo cải lương”.
Chèo cải lương rộ hẳn lên và thu được nhiều thành quả trong vòng 10 năm với hàng mấy chục vở diễn do Nguyễn Đình Nghị và một số cây bút đương thời sáng tác kịch bản mới, cùng với việc chỉnh lí và cải biên các vở chèo cổ theo lối diễn của chèo cải lương. Chính sự đổi thay này đã đánh dấu một giai đoạn chuyển hóa nghệ thuật nhiều mặt của sân khấu chèo trong quá trình thích ứng từ xã hội phong kiến lạc hậu qua xã hội phong kiến nửa thực dân.1 Sự xuất hiện sàn diễn - rạp hát, đặc biệt là những rạp hát ở Hà Nội Trước đây, chèo chỉ thường diễn ở sân đình. Giai đoạn chèo tân thời thì chèo chuyền từ sân đình ở nông thôn ra các vùng đô thị lớn trong đó có Hà Nội. Trong môi trường đô thị, cùng với nó là sự thay đổi về tầng lớp thưởng thức có cả tư sản, tiểu tư sản và tầng lớp tri thức, thị dân và nhất là dân nghèo thành thị buôn thúng bán mẹt.
Điều đó cho thấy hình thức chiếu chèo như ở nông thôn không còn phù hợp với thị hiếu của họ nữa. Cho nên rất cần có sự thay đổi. Sự thay đổi này cũng chính là bước chuyển từ chiếu diễn sân đình lên sàn diễn - rạp hát. Danh từ “rạp hát” là dùng để chỉ những địa điểm biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật có mái che, có tường vây quanh và do tài chủ quản lí.
Nó rất khác với hình thức chỉ là mấy chiếc chiếu trải ở sân đình làm nơi diễn chèo cổ. Nói là rạp hát nhưng nhìn chung lúc đầu vẫn còn rất đơn giản và nó được hoàn thiện theo thời gian phát triển của nghệ thuật chèo. Qua những ghi chép của nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ trong công trình Nguyễn Đình Nghị và chèo cải lương, xuất bản năm 1995, Nxb Văn hóa Hà Nội chúng tôi xin được dẫn ra đây một số rạp hát tiêu biểu của chèo tân thời: Rạp hát Đồng Lạc đài: Năm 1908, một số nhân sĩ hợp tác với mấy nhà buôn mua đất ở ngõ Sầm Công và xây dựng rạp Đồng Lạc đài. Rạp này khá lớn và chứa được hơn trăm khán giả, có sân khấu, sàn diễn xây cao lên hơn 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nền hàng chục gạch, sát đầu hồi nhóm nhạc ngồi một bên, ông Thơ và người sửa nghề sửa soạn một bên, có tách khỏi khán đài với khán giả, có treo tấm màu đỏ hoặc xanh để kéo lên khi bắt đầu vào diễn.
Rạp Sán Nhiên Đài là nơi được đánh giá rất cao về tầm quan trọng cho sự phát triển của nghệ thuật chèo tân thời. Nó là nơi đầu tiên ứng dụng đưa chèo từ sân khấu sân đình vào sân khấu hộp và đưa khán giả xem diễn từ đối tượng là những người nông dân lao động tiến ra thành thị với một số lượng khán giả rất đa dạng từ tầng lớp tư sản có tiền cho đến những vú em hay con sen. Cuối năm 1916 - đầu năm 1917 hội Sán Nhiên mới xây xong và khai trương trụ sở và cũng là rạp hát. Đây là rạp hát đầu tiên xây dựng quy mô bắt chước cách bố trí nội thất của nhà hát Tây - đúng theo kiểu sân khấu hộp, có cung cách tổ chức đào tạo, làm ăn quy củ từ các khâu.
Đây là hội đánh dấu bước chuyển mới của sân khấu chèo Hà Nội. Hội Sán Nhiên khi được đem ra so sánh với Quảng Lạc Đài (của nhóm Phú Trọng, được xây dựng vào cuối năm 1915 ngay trên nền rạp Hàng Buồm cũ) thì có phần hơn hẳn cả về sức chứa lẫn tiện nghị và trang trí mặt ngoài: Sán Nhiên Đài có hướng quay mặt ra ngõ Mã Mây (Phố Đào Duy Từ), tòa nhà có diện tích khá rộng (12m*25m), cao gần 5m. Từ hè đường khách bước lên ba bậc xây, đi qua 3 cổng, vòm cuốn: cao 2,8m - ngang 1,6m vào khu gian trống, có tường ngăn với khán trường. Trên cổng giữa vắt ngang một khung đắp vữa cao gần 1m đắp 3 chữ nho đậm nét: “Sán Nhiên Đài”.
Cổng giữa thẳng vào sát tường ngăn là quầy bán vé một bên và bên kia đặt bảng quảng cáo tiết mục. Hai đầu tường trỗ hai cửa ra và vào rạp. Hai đầu hai trống xây hai cầu thang lên gác, một lối bước vào phòng Hội đồng, chỗ ban Quản trị làm việc hàng ngày hoặc họp Đại hội đồng thường niên bằng một lối đi hành lang trên gác. Khán trường chia ra làm 3 khu và chênh nhau độ cao từ 30cm, xuôi xuống sân khấu.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khu đầu tiên, cao nhất, đặt 12 hàng ghế gỗ lim có tựa, chia ra 2 dãy, mỗi bên đặt 6 chỗ ngồi mỗi hàng đóng liền chắc vào nhau và giành cho những người mua vé hàng 3. - Khu thứ hai, dành cho vé hạng 2, gồm 8 hàng ghế có mây tựa và chia ra làm 2 dãy và mỗi bên 6 ghế buộc dính vào nhau để khách không xê dịch được. - Khu thứ ba là khu tiếp cận gần sân khấu, dành cho vé hạnh nhất, bao gồm 6 hàng ghế mây có tựa và đặt thành 2 dãy, mỗi bên 5 ghế rời. Hành lang trên gác đặt 16 ghế mấy và mỗi hàng là 3 ghế, hành lang này được làm bằng gỗ và kéo dài tới nửa khu vé hạng nhất.
Hành lang dưới nhà và phía cuối là chỗ của những khách mua vé hạng đứng. Rạp bình thường chứa gần 400 khán giả. Căn cứ vào các tài liệu ghi chép của tác giả Trần Việt Ngữ về Nguyễn Đình Nghị và chèo cải lương chúng tôi xin được tóm tắt lại sự ra đời và quá trình phát triển của các rạp hát thời kỳ chèo tân thời như sau: Bảng 1:1 Bảng tóm tắt sự ra đời và quá trình phát triển của các rạp hát thời kỳ chèo tân thời Tiêu chí Rạp Đồng Rạp Sán Nhiên Đài Lạc Sán Nhiên Đài Sán Nhiên Đài Cải lương hý giai đoạn chèo giai đoạn chèo viện văn minh cải lương Thời gian 1908 1913 8/ 1923 7/1927 thành lập Ngõ Sầm Hàng Buồm Hàng Buồm 42 Hàng Bạc Công (phố (1913) Địa Đào Duy Từ Ngõ Mã Mây phố chỉ ngày nay) Đào Duy Từ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (1917) Ban Quản trị Ban quản trị Ban quản trị Ban quản trị là: một số 100% cổ phần: Ôn 100% cổ phần: 100% cổ phần: nhân sĩ + mấy Như Nguyễn Văn Ôn Như Ôn Như nhà buôn Ngọc (nhà giáo Nguyễn Văn Nguyễn Văn nhà sưu tầm ca Ngọc (nhà giáo Ngọc (nhà Cơ dao nổi tiếng. nhà sưu tầm ca giáo nhà sưu cấu tổ Nguyễn Quang dao nổi tiếng.
tầm ca dao nổi chức Anh, Đỗ Thận Nguyễn Quang tiếng.