lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát chung về chế độ tiền lƣơng, tiền lƣơng tối thiểu Chƣơng 2: Chế độ Tiền lƣơng tối thiểu trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tiền lƣơng tối thiểu ở Việt Nam 6 z CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG, TIỀN LƢƠNG TỐI THIỂU 1.1 Khái quát chung về tiền lƣơng 1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò và chức năng của tiền lƣơng 1.1 Khái niệm và bản chất của tiền lƣơng Tiền lƣơng không chỉ là phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội có liên quan trực tiếp tới đời sống của ngƣời lao động. Khái niệm “tiền lƣơng” xuất hiện khi có sự sử dụng sức lao động của một bộ phận dân cƣ trong xã hội một cách có tổ chức và đều đặn bởi một bộ phận dân cƣ khác. Theo lý thuyết kinh tế của Adam Smith 14: Cơ sở tiền lƣơng là giá trị tƣ liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống ngƣời công nhân và gia đình họ. Adam Smith đã chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng tới tiền lƣơng là trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi đất nƣớc, đặc điểm lao động của con ngƣời, điều kiện làm việc, tính chất công việc, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp.
Theo lý thuyết tiền lƣơng của David Ricardo 14: Ông coi lao động là hàng hóa. Tiền lƣơng đƣợc xác định trên giá cả tự nhiên và xoay quanh nó. Giá cả tự nhiên của hàng hóa lao động là giá trị những tƣ liệu sinh hoạt nuôi sống ngƣời công nhân và gia đình họ. Trong lý thuyết tiền lƣơng của Adam Smith và các nhà kinh tế học tƣ sản đều cho rằng tiền lƣơng là giá cả của lao động.
Điều đó có nghĩa là nó chịu sự tác động của kinh tế thị trƣờng. Theo quan niệm của C. Mac trong Quyển I Tập II Phần IV về Tiền công: Tiền công là giá cả của hàng hóa - sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài nhƣ là giá cả của lao động. Đã là hàng hóa thì hàng hóa sức lao động cũng có giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị sức lao động, xét về mặt cơ cấu, gồm ba bộ phận: Chi phí (giá trị các tƣ liệu sinh hoạt) để có thể nuôi sống và duy trì khả năng hoạt động 7 z của bản thân ngƣời công nhân; Chi phí để nuôi sống gia đình ngƣời công nhân; Chi phí để đào tạo, nâng cao trình độ cho công nhân. Tuy nhiên những quan niệm trên về tiền lƣơng của các nhà kinh tế học tƣ sản và của Mac mới chỉ dừng lại ở chủ nghĩ tƣ bản, trong nền kinh tế thị trƣờng. Trong Xã hội chủ nghĩa (XHCN), giai đoạn đầu chúng ta chƣa hoàn toàn quan niệm sức lao động là hàng hóa, ngƣời lao động chƣa đƣợc hoàn toàn tự do bán sức lao động của mình mà phụ thuộc vào việc sử dụng có kế hoạch của Nhà nƣớc. Trong nền kinh tế XHCN, tiền lƣơng đƣợc Nhà nƣớc phân phối cho ngƣời lao động một cách có kế hoạch theo số lƣợng và chất lƣợng lao động mà mỗi ngƣời cống hiến.
Nhƣ vậy, tiền lƣơng chịu sự tác động của quy luật phát triển cân đối, có kế hoạch cũng nhƣ phân phối theo lao động. Nền kinh tế XHCN là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nƣớc nên thang, bảng lƣơng, mức lƣơng và các chế độ chính sách đối với ngƣời lao động đều do nhà nƣớc thống nhất quản lý, ban hành. Chính chính sách tiền lƣơng đó đã không tạo đƣợc động lực cho ngƣời lao động phát huy khả năng và sức sáng tạo trong lao động, làm cho nền kinh tế kém phát triển, đời sống của ngƣời lao động không đƣợc nâng cao. Nhận thức đƣợc những bất cập của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những chuyển đổi theo cơ chế mới – kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Chính sách tiền lƣơng cũng có sự thay đổi theo cơ chế mới này. Những năm gần đây, việc sử dụng lao động đã đƣợc thực hiện bằng các hợp đồng lao động (tức là có sự thỏa thuận của hai bên về vấn đề sử dụng lao động và mức trả công). Nhƣ vậy có nghĩa là phạm trù hàng hóa sức lao động đã đƣợc công nhận, tiền lƣơng không chỉ là phạm trù phân phối mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị đặc biệt bởi vì lao động của con ngƣời là một trong những yếu tố quan trọng nhất và giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất.
Vì vậy trong khi hoạch định chính sách tiền lƣơng cần đánh giá đúng vai trò quyết định của con ngƣời. 8 z Trong nền kinh tế thị trƣờng, tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động. Cũng nhƣ các thị trƣờng khác, thị trƣờng sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu. Mọi cá nhân, tổ chức có quyền thuê mƣớn, sử dụng và trả công phù hợp với giá trị sức lao động theo đúng pháp luật của nhà nƣớc.
Nhƣ vậy tiền lƣơng đƣợc hiểu là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ đƣợc pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Từ khái niệm trên cho thấy bản chất của tiền lƣơng là giá cả sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, thông qua sự thỏa thuận giữa ngƣời có sức lao động và ngƣời thuê mƣớn, sử dụng sức lao động đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu. Tuy nhiên, thực tế ở nƣớc ta hiện nay, sự thỏa thuận giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động về tiền lƣơng vẫn chỉ là tƣơng đối. Tiền lƣơng chƣa phản ánh đúng bản chất là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt và chịu sự tác động của các quy luật kinh tế.
Chính thực trạng thị trƣờng lao động của nƣớc ta hiện nay cung lao động luôn lớn hơn cầu đã đẩy ngƣời lao động ở vào thế yếu hơn so với ngƣời sử dụng lao động và tiền lƣơng phần lớn phụ thuộc vào quyết định của ngƣời sử dụng lao động.2 Vai trò của tiền lƣơng Tiền lƣơng có một vai trò rất lớn không chỉ đối với riêng bản thân ngƣời lao động mà còn đối với cả nền kinh tế đất nƣớc. Vai trò đó đƣợc thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, tiền lƣơng luôn gắn liền với ngƣời lao động, là nguồn sống chủ yếu của bản thân và gia đình ngƣời lao động. Tiền lƣơng không chỉ giúp họ tái sản xuất sức lao động đã bị tiêu hao trong quá trình lao động mà còn giúp ngƣời lao động nuôi sống gia đình họ, trang trải những chi phí phát sinh do gặp rủi ro 9 z trong cuộc sống. Mặt khác, tiền lƣơng còn giúp ngƣời lao động có thể nâng cao đƣợc trình độ (kỹ năng nghề nghiệp, trình độ ngoại ngữ) để đáp ứng tốt hơn cho quá trình lao động.
Tiền lƣơng kích thích ngƣời lao động nâng cao năng lực làm việc của mình, phát huy mọi khả năng vốn có để tạo ra năng suất lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Thứ hai, tiền lƣơng tác động tích cực đến việc quản lý kinh tế, tài chính, quản lý lao động, kích thích sản xuất, ở cả cấp vĩ mô (nhà nƣớc) và cấp vi mô (doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình…). Nếu chính sách tiền lƣơng đúng đắn, hợp lý sẽ tạo đƣợc tâm lý yên tâm, ổn định, phấn khởi của ngƣời lao động và do đó sẽ kích thích đƣợc họ phát huy khả năng lao động, sáng tạo, phát triển sản xuất. Tiền lƣơng còn là một trong những công cụ kinh tế để Nhà nƣớc quản lý kinh tế, tài chính và bình ổn xã hội.3 Chức năng của tiền lƣơng Chức năng thước đo giá trị sức lao động: Tiền lƣơng biểu thị giá cả sức lao động, là thƣớc đo để xác định mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mƣớn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của ngƣời lao động dƣới hình thức tiền lƣơng đƣợc sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà chính bản thân họ đã bỏ ra cho quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả cho các quá trình làm việc sau và phần còn lại đảm bảo cho các nhu cầu thiết yếu của các thành viên trong gia đình ngƣời lao động.
Đời sống của bản thân và gia đình ngƣời lao động chịu sự tác động của các thay đổi về các điều kiện kinh tế và sự biến động trên các lĩnh vực hàng hóa, giá cả. Do vậy, tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động phải đủ bù đắp những hao phí sức lao động tính cả trƣớc, trong và sau quá trình lao động cũng nhƣ những biến động về giá cả trong sinh hoạt, những rủi ro hoặc các chi phí khác phục vụ cho việc nâng cao trình độ ngành nghề của ngƣời lao động. 10 z Chức năng kích thích: Khi ngƣời lao động làm việc có năng suất cao, hiệu quả rõ rệt thì chủ sử dụng lao động làm cần quan tâm tới tiền lƣơng để kích thích ngƣời lao động. Ngoài ra, ngƣời sử dụng lao động cần áp dụng các biện pháp thƣởng.
Số tiền này bổ sung cho tiền lƣơng, mang tính chất nhất thời, không ổn định nhƣng lại có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lƣợng và hiệu quả lao động. Chức năng tích lũy: Tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động phải đảm bảo duy trì đƣợc cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro.2 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lƣơng Thứ nhất, nguyên tắc trả lương trên cơ sở chất lượng và hiệu quả lao động Lao động là hàng hóa có giá trị sử dụng đặc biệt. Thuộc tính đặc biệt của hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng ở chỗ khi sử dụng - tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của chính bản thân nó. Chính vì vậy, khi phân phối phải trên cơ sở lao động hao phí.