mở đầu quá trình thôn tính Việt Nam. Từ đây tiến trình thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp bằng việc dùng sức mạnh quân sự buộc triều đình nhà Nguyễn ký hàng loạt hiệp ước, từ hiệp ước Nhâm Tuất (ngày 5/6/1862) cho đến hiệp ước Patơnôt (năm 1884) chính thức xác lập quyền cai trị của thực dân Pháp ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Đến tháng 7-1885, phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết chỉ huy tấn công vào đồn Mang Cá, khu nhượng địa, khu sứ quán của thực dân Pháp ở Huế. Nhưng sau đó cuộc tấn công thất bại, Tôn Thất Thuyết phò giá vua Hàm Nghi rời kh i kinh thành Huế.
Sau khi xuất bôn rời kh i kinh thành ra Quảng Trị, ngày 13-7-1885 tại Tân Sở vua Hàm Nghi xuống dụ Cần Vương kêu gọi quan lại, sĩ phu, nhân dân đứng lên giúp vua đánh giặc cứu nước. Hưởng ứng dụ Cần Vương, khắp nơi trong cả nước, đặc biệt là các địa phương ở miền Bắc và miền Trung. Cùng với các tỉnh khác trong cả nước, tại Bình Định, phong trào Cần Vương kháng Pháp do các văn thân yêu nước lãnh đạo đã diễn ra một cách sâu rộng. Ngay từ ngày 15 tháng 8 năm 1885, các sĩ phu yêu nước Bình Định đã truyền hịch khởi nghĩa, kêu gọi không những dân chúng trong tỉnh, mà còn ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận: “Dân chúng trong các tỉnh nên biết rằng Hoàng đế của chúng ta đã bị đuổi ra kh i cung điện.
dân chúng thì khổ cực và lầm than. Chúng tôi có sứ mạng tập hợp những người có thiện chí ở 5 phủ và huyện để thành lập một đạo quân. chống lại bọn Pháp. Chúng tôi chiếm lại kinh đô và đặt Hoàng đế của chúng ta trở lại ngai vàng.
Lúc đó, đất nước ta sẽ được thanh bình” (Hịch khởi nghĩa). Cũng trong lúc đó, tại Bình Định vừa diễn ra khoa thi hàng tỉnh. Các sĩ tử khi nghe tin kinh thành thất thủ và nhà vua xuất bôn, đã vứt b nghiên bút, từ b trường thi trở về quê hương, tập hợp dân chúng chống Pháp. Tại Bình Định, các văn thân đứng dưới ngọn cờ của Đào Doãn Địch vây chiếm thành Bình Định, làm chủ thành này và truyền hịch khởi nghĩa đến tất cả các tỉnh ở cực Nam Trung bộ.
Trong hai năm, phong trào đã lớn mạnh, gần như làm chủ được hoàn toàn hai tỉnh Phú Yên và Bình Định. “Tất cả dân chúng đều ác cảm đối với chúng ta”- một viên tướng Pháp đã nhận xét như vậy vào năm 1886. Cuộc kháng chiến đã được tổ chức đến từng làng. Dân chúng được vũ trang bằng những vũ khí được chế tạo tại chỗ.
“Họ đã thành lập được một lò đúc súng… Trong thời gian này, gần như toàn bộ dân chúng và các quan lại hai tỉnh Bình Định, Phú Yên đã tham gia nghĩa binh” (Báo cáo của Thiếu tá Dumas gửi Tổng Tư lệnh, ngày 4-3-1887). Còn theo Công sứ Quy Nhơn, 6.000 nghĩa quân đã chiếm vùng đất từ đường lộ ra biển của huyện Phù Mỹ. Và cả tỉnh Bình Định đã có 1.723 thủ lĩnh nghĩa quân; trong đó, có 1.341 thủ lĩnh quân sự và 382 thủ lĩnh dân sự. Phong trào ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp không thể ngồi yên.
Bọn chúng bắt đầu mở một chiến dịch đàn áp những người yêu nước. Tuy nhiên, khi ấy Pháp chỉ có 40.000 quân, đang phải đối phó với phong trào nổi dậy ở các tỉnh phía Bắc, nên chỉ đủ sức can thiệp đến Huế. Tại miền Trung, chúng tạm thời giao việc đàn áp cho chính phủ Nam triều; trong đó, vùng nam Quảng Ngãi, do Nguyễn Thân đảm nhiệm; vùng Bình Thuận, Khánh Hòa do Trần Bá Lộc đảm nhận, dưới quyền của Aymonier. Trước sự tấn công của Lộc và Aymonier, đến tháng 9-1886, vùng Bình Thuận, Khánh Hòa đã hoàn toàn nằm trong vòng kiểm soát của Pháp.
Một số thủ lĩnh của phong trào phải lánh nạn sang Bình Định và Phú Yên. Tại Quảng Ngãi, phong trào cũng gần như bị đè bẹp. Bình Định và Phú Yên khi ấy đã gần như trở thành pháo đài của phong trào. Sau khi bình định xong các tỉnh phía Bắc, Pháp bắt đầu mở cuộc càn quét vào căn cứ nghĩa quân.
Tại Bình Định, Pháp điều 1.300 quân dưới quyền chỉ huy của Trung tá Cheuvreux cùng Trần Bá Lộc và Công sứ Tirant, tấn công vào hầu hết căn cứ của nghĩa quân Cần Vương ở Bình Định. Trận chiến diễn ra khốc liệt, nhưng nghĩa quân chủ yếu chỉ được trang bị vũ khí thô sơ, kỹ năng chiến đấu còn thấp nên không thể chống đỡ trước sức mạnh tấn công của quân Pháp. Phong trào nhanh chóng bị đè bẹp, hầu hết thủ lĩnh nghĩa quân bị bắt. Chỉ còn lại 50 người trung thành với Mai Xuân Thưởng tìm đường sang Phú Yên, tiếp tục gây dựng phong trào, nhưng rồi cuối cùng cũng bị bắt và xử trảm.
Phong trào Cần Vương thất bại. Vào năm 1885 Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai, Kon Tum có giai đoạn thuộc về Bình Định. Đến năm 1890 Pháp sát nhập thêm tỉnh Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú, đến năm 1899 Phú Yên lại tách ra, Bình Định trở thành tỉnh độc lập. Bình Định là một tỉnh lớn có địa bàn chiến lược quan trọng ở Trung Kỳ nên cũng không nằm ngoài sự chi phối của bộ máy chính quyền nam triều và Pháp.
Bằng quy ước ngày 30/7/1885, chính quyền thực dân Pháp đã chính thức đặt một chức Công sứ Pháp (Résident) đứng đầu mỗi tỉnh ở miền trung và miền Bắc. Lúc này đứng đầu tỉnh Bình Định là công sứ Pháp nắm giữ các vấn đề về thương chính và công chính trong tỉnh. Năm 1886 chính quyền thực dân bên chính quốc lại cho phép công sứ được thi hành chức năng của lãnh đạo sự. Cùng với việc thiết lập, mở rộng, củng cố quyền lực của Khâm Sứ Trung Kỳ thì quyền lực của Công sứ cũng được củng cố và mở rộng.
Công sứ đã trở thành người thay mặt cho Khâm sứ nắm và chỉ đạo mọi mặt hoạt động từ cấp tỉnh trở xuống [28, tr. Dưới Công sứ là viên phó sứ (Résident Adjoint) giúp việc, đồng thời Pháp đặt thêm một số cơ quan hành chính hoặc sở tham biện ở những nơi xa tỉnh lị. Những cơ quan hành chính hoặc sở tham biện này do phó sứ hoặc sĩ quan Pháp phụ trách, lực lượng lính khố xanh thay mặt cho công sứ Pháp nắm những nơi đó. Đứng đầu Đại lý Bồng Sơn là một phó sứ hoặc một sĩ quan Pháp.
Đứng đầu thị xã Quy Nhơn là Công sứ kiêm quản. Khi nâng lên thành phố thì chức Đốc lý thành phố do Công sứ Pháp kiêm nhiệm. Để thi hành được trách nhiệm và quyền lực của mình, Công sứ cũng có một số tổ chức phụ tá chính như: Tòa Công sứ (là cơ quan hành pháp và tư pháp của chính quyền thực dân ở cấp tỉnh), Hội đồng hàng tỉnh (có trách nhiệm góp ý kiến với chính quyền về các vấn đề kinh tế, xã hội), tòa Đốc lý thành phố và Hội đồng thành phố [38, tr. Việc thâu tóm quyền lực của Pháp không chỉ ở cấp tỉnh mà còn xuống tận chính quyền xã của Nam triều, bộ máy chính quyền phong kiến triều Nguyễn ngày càng lệ thuộc hoàn toàn và đặt dưới sự điều hành khống chế hoàn toàn của thực dân Pháp.
Mọi hoạt động của chính quyền đều hướng tới phục vụ cho công cuộc thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng. Tình hình kinh tế xã hội Bình Định cuối thế kỉ XIX 1. Về kinh tế Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế “lưỡng song”, nghĩa là duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp hạn chế phương thức sản xuất tư bản hiện đại ở tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Hình thức kinh tế “lưỡng song” được cụ thể hóa bằng những chính sách: chính sách hạn chế phát triển kỹ nghệ; chính sách độc quyền; chính sách chiếm đất lập đồn điền kết hợp duy trì, phát triển lối bóc lột phong kiến.
Chính sách hạn chế phát triển công nghệ được qui định trong bản báo cáo 23-3-1897 của Toàn quyền Pôn Đume (Paul Dumer): “Nếu việc xây dựng công nghiệp cần được khuyến khích ở thuộc địa thì chỉ trong giới hạn không hại đến công nghiệp chính quốc. Công nghiệp chính quốc cần được bổ sung chứ không là phải phá sản bởi công nghiệp thuộc địa”. Tư bản Pháp tập trung khai thác các ngành công nghiệp khai khoáng và chế biến vừa th a mãn yêu cầu về vốn, vừa đem lại lợi nhuận cao và bổ trợ cho ngành công nghiệp chính quốc. Thực hiện chính sách độc quyền ở một số lĩnh vực như thuế quan, kinh doanh và tài chính.
Thông qua hai đạo luật thuế quan 1887 và 1892, thực dân Pháp kê khai biểu đánh thuế hàng nhập cảng đối với hàng Pháp là 2,5% và 5% đối với hàng ngoại quốc. Ở lĩnh vực kinh doanh, tư bản Pháp tiến hành thu mua hàng hóa với giá rẻ sau đó bán ra với giá cao, hạn chế nhập khẩu các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm chính quốc, độc quyền phát hành giấp bạc. Ở Bình Định, với hiệp ước năm 1874, Pháp buộc triều đình Huế nhượng cảng Thị Nại (Quy Nhơn) cho Pháp lập đầu cầu chiến lược. Năm 1876 cảng Quy Nhơn được khai trương, đến năm 1892 Pháp đặt phao tiêu để hướng dẫn tàu bè đi vào cảng.
Từ đây, Pháp lấy Quy Nhơn làm điểm tựa vươn ra để khai thác tài nguyên trong tỉnh và các tỉnh lân cận [39, tr. Từ năm 1876 nhất là sau khi cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng bị dập tắt, đế quốc Pháp xúc tiến ngay việc khai thác tài nguyên và nhân lực Bình Định. Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, việc chiếm đoạt đất đai của tư bản Pháp diễn ra mạnh mẽ từ năm 1887 dưới danh nghĩa khai hoang. Những thực dân đi đầu trong việc chiếm đoạt đất đai bằng thủ đoạn xin chính quyền thực dân cấp “nhượng địa” ở tỉnh Bình Định là Robin, Masselin.
Từ năm 1888 đến 1893 có thêm Ribière, Lupin, Schuring, Richarson. Năm 1896 có Berthoin, Du Camp, Delignon, Jumelin…Tính từ năm 1887 đến 1910 tại Bình Định có 16 hồ sơ xin cấp nhượng địa. Nhằm hợp pháp việc chiếm đoạt đất đai của người Việt, tháng 10/1897 thực dân Pháp buộc chính quyền Nam triều cam kết nhượng cho Pháp quyền khai khẩn đất hoang. Đến 1/5/1900 toàn quyền Đông Dương ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của vua Việt Nam, chuyển sở hữu sang nhà nước bảo hộ Pháp.