chương I, Luật NCT Việt Nam, người cao tuổi (NCT) được quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên [10]. Quy định này cũng được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi về CLCS của NCT ở Việt Nam. Già hóa hóa dân so 1. Định nghĩa Già hóa dân số là quá trình tăng tỷ trọng người già trên 60 tuổi (đối với Việt Nam) trong tổng số dân [16].
Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970), dân số được coi là “già hóa” khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số; tương ứng cho “già”, “rất già” và “siêu già” là 20%, 30% và 35% [11]. Tĩnh hĩnh già hóa dân so trên thế giới và tại Việt Nam Đặc trưng của GHDS trên thế giới thể hiện rõ nhất là NCT trên thế giới ngày càng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số dân. số liệu cho thấy đến giữa thế kỷ 21 cả thế giới có tới 21% NCT. Trong đó, tỷ trọng NCT ở các nước đang phát triển là 19% [16].
Báo cáo của Tổng cục Thống kê (2011), dân số Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ chuyển từ dân số trung gian giữa già và trẻ sang dân số già [16]. Ket quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở (2009), tỷ trọng người trên 60 tuổi chiếm 9,6% tống dân số cả nước. Có đen 20 tỉnh/ thành phố trong cả nước có tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên trên 10% dân số, trong đó có Hưng Yên (chiếm 11,8% dân số của tỉnh) [17]. Dự báo của Tổng cục Thống kê (2010), dân sổ nước ta sẽ chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 và Việt Nam sẽ trở thành nước có dân số già vào năm 2035 [16] [18], Cũng theo Tổng cục Thống kê, tốc độ GHDS của Việt Nam là khá nhanh khi tỷ số già hóa tăng từ 18,2 (1989) lên 37,9 (2010) và sẽ tiếp tục tăng nhanh trong tương lai.
Hưng Yên cũng là một trong những tỉnh có tỷ số già hóa cao nhất (>50) [17], 5 Báo cáo của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (2011) [11] cho thấy các đặc điểm nổi bật của GHDS tại Việt Nam như sau: - Cơ cấu dân số biến động mạnh theo hướng: tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) và tỷ lệ NCT tăng nhanh. Trong giai đoạn 1979-2009, tổng dân số tăng 1,6 lần; dân số trẻ em giảm gần một nửa; dân số trong độ tuổi lao động tăng 2,08 lần, còn dân số cao tuổi tăng 2,12 lần. Như vậy, dân so cao tuổi tăng nhanh nhất so với tất cả các nhóm dãn so khác trong giai đoạn này. - Dân số sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là số lượng NCT ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn.
Đồng thời, tỷ lệ phụ nữ trong dân số cao tuổi ngày càng tăng (còn gọi là xu hướng “nữ hóa ” dân so cao tuổi). - Có sự khác nhau về mức độ GHDS ở các tỉnh và vùng có điều kiện, trĩnh độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau. Sự phân bố dân số cao tuổi giữa các tỉnh cho thấy với những tỉnh có tỷ lệ NCT trên 10% thì một trong những nguyên nhân quan trọng là do mức di cư lớn của dân số trong độ tuổi lao động. Ở Việt Nam, GHDS trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế-xã hội còn thấp là thách thức vô cùng to lớn.
Không chỉ thách thức cho tăng trưởng kinh tế mà còn tác động mạnh đến mối quan hệ gia đình, lối sống và hệ thống an sinh xã hội vì dân sổ già đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hưu trí, trợ cấp. Chat lượng cuộc song Ị. Định nghĩa Năm 1948, Tổ chức Y tế thể giới (WHO) đã định nghĩa: Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ đơn thuần là không có bệnh hay thương tật. Như vậy, chỉ quan tâm chữa trị bệnh tật là chưa đủ, mà phải quan tâm đến cuộc sống của con người về cả tinh thần và xã hội.
Nói khác đi, con người không phải chỉ sống sót, tồn tại, mà phải sống có ý nghĩa, có hạnh phúc ở mức tốt nhất có thể được [12] [25], Do đó, cảm nhận của bản thân mỗi người về cuộc sống của họ là rất quan trọng. Điều đó quyết định rất lớn đến chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. 6 Chính vì vậy, năm 1995, WHO đã đưa ra định nghĩa về CLCS như sau: Chất lượng cuộc sống là những cảm nhận của các cá nhãn về cuộc sổng của môi người trong bối cảnh văn hóa và các hệ thong giả trị mà họ đang song và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuắn và các mối quan tâm [45], Bộ công cụ đánh giá CLCS của con người (WHOQOL-lOO) của WHO đã cụ thể hóa định nghĩa nêu trên. Bộ công cụ gồm 100 câu hỏi đề cập 6 khía cạnh của cuộc sống và được xem là bộ công cụ đo lường CLCS toàn diện, chi tiết nhất [45] [5].
Khái quát chung, CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa tổng thể về sự hài lòng của một cá nhân trước tất cả các yếu tố đa dạng của cuộc sống. Vì vậy, đo lường CLCS phải chú ý tới những đặc trưng của CLCS về tính toàn diện, đa khía cạnh; mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi đặc thù kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể [5] [6]. Đối với NCT, khi đề cập đến CLCS bên cạnh việc chú ý đến đặc trưng là sự lão hóa, với tình trạng bệnh tật và sự phụ thuộc của tuổi già; cũng cần xem xét các khía cạnh khác tác động lên cuộc sổng của họ. Do đó, nghiên cứu CLCS của NCT cần có một cái nhìn tổng quan trong đời sống của NCT nói chung [27].
Các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam Mặc dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều quan tâm đến CLCS một cách đa chiều cạnh khi đề cập đến các khía cạnh khác nhau của đời sống và việc CLCS chịu tác động từ nhiều yếu tố. Đồng thời, CLCS thường được nhìn từ quan điểm cá nhân trong điều kiện cụ thể mà họ sinh sống. Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học YTCC tổng quan về công cụ đo lường CLCS nhận thấy bộ công cụ WHOQOL-lOO do Tổ chức Y tế thế giới đưa ra là bộ công cụ đề cập nhiều nhất các khía cạnh của CLCS, bao gồm 6 khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội, tâm linh, kinh tế và môi trường. WHOQOL-lOO được xem là bộ công cụ đo lường CLCS toàn diện [5] [45].
Từ đó, nhóm nghiên cứu đã phát triển bộ công cụ đo lường CLCS của NCT tại Việt Nam thông qua phỏng vấn sâu 5 chuyên gia trong lĩnh vực NCT và 6 NCT, thảo luận nhóm với 72 NCT tại cộng đồng về những vấn đề được cho là quan trọng nhất đối với cuộc sống của họ. Ket quả, các chuyên gia và NCT đều đề cập đến các yếu tố thuộc 6 khía cạnh 7 giống như các khía cạnh trong bộ WHOQOL-IOO. Tuy nhiên, trong mỗi khía cạnh, có bổ sung thêm một số yếu tố đặc trưng và lược bỏ những yếu tố không phù hợp với NCT trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam. Các khía cạnh về sức khoẻ thể chất, môi trường, tâm lý không có sự khác biệt nhiều.
Tuy nhiên, NCT Việt Nam nhấn mạnh nhiều hơn vào các vấn đề kinh tế và các mối quan hệ với con cái so với các bộ công cụ được xây dựng ở các nước phát triển [5]. Sau đó, nhóm tiến hành nghiên cứu định lượng để kiểm định tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ này. Kết luận chứng minh rằng bộ công cụ là phù họp và đảm bảo để đo lường CLCS của NCT Việt Nam [5], Dưới đây là tổng hợp các khía cạnh của CLCS của NCT ở Việt Nam [3]: ❖ Khía cạnh Sức khỏe thể chất Đối với NCT, tình trạng lão hóa đi kèm với những vấn đề sức khỏe khá phổ biến. Khả năng chấp nhận tình trạng sức khỏe dẫn đến những cảm nhận về ảnh hưởng từ các vấn đề sức khỏe có sự khác nhau.Vì vậy, mức độ tác động của những vấn đề sức khỏe đến NCT ảnh hưởng bởi sự đánh giá chủ quan của chính họ và được đề cập rất chi tiết trong bộ WHOQOL-lOO [45].
Các vấn đề sức khỏe tổng hợp từ nghiên cứu định tính không khác biệt nhiều so với bộ công cụ của WHO. Một số vấn đề liên quan đến khả năng nghe/nhìn, trí nhớ và khả năng làm việc nhà không được đề cập trong bộ WHOQOL-lOO nhưng lại được NCT ở cộng đồng nhắc đến. ❖ ĩ* Khía cạnh Tâm lý Ket quả định tính cho thấy, NCT cũng đề cập đến những yếu tố chung của khía cạnh tâm lý được đo lường trong bộ công cụ của WHO như “cảm giác buồn chán trong cuộc sống”, “sự hài lòng về các mối quan hệ với con cái, họ hàng và cộng đồng”. Ngoài ra, NCT còn nhấn mạnh nhiều đến sự trưởng thành của con cháu; sự tôn trọng, lắng nghe của cộng đồng; nhu cầu chia sẻ và trò chuyện với những người xung quanh và yên tâm về hậu sự (như ma chay tang lễ, về con cái.
❖ Khỉa cạnh Xã hội Các mối quan hệ xã hội được đề cập nhiều nhất khi thảo luận về những yếu tổ quan trọng với cuộc sống của NCT. Họ nhấn mạnh nhiều đến sự “hài hoà”, “vui vẻ” trong các quan hệ gia đình (chủ yếu là với con cháu), kế đến là với họ hàng, 8 hàng xóm láng giềng và cộng đồng xung quanh. Bộ công cụ của WHO cũng đã đê cập đến các mối quan hệ trong gia đình, sự hỗ trợ từ gia đình cũng như khả năng hỗ trợ đối với người khác nhưng NCT nước ta nhấn mạnh nhiều hơn đến: Vai trò của NCT trong gia đình, nhất là sự chia sẻ, quan tâm chăm sóc của con cái; sự hỗ trợ của NCT đối với các thành viên trong gia đình; Sự tham gia vào các hoạt động của cộng đồng giúp họ có cảm giác có ích đối với gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, nhu cầu được hỗ trợ của con cháu đôi khi cũng là những gánh nặng.
Ở nông thôn, do con cái đi làm ăn xa nên chăm sóc cháu thường xuyên cũng làm cho NCT thấy mệt mỏi. Do đó, bộ công cụ đo lường CLCS NCT nước ta cũng cần đo mức độ NCT hỗ trợ con cháu và sự hài lòng của họ về sự hỗ trợ đó.