CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT CÓ HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU VÀ TRÁI PHIẾU CHUYỂN ĐỔI RA THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ 1. Cơ sở lý luận về hoạt động chào bán trái phiếu và trái phiếu chuyển đổi ra thị trường quốc tế 1. Khái niệm về trái phiếu Trái phiếu là công cụ nợ do các chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường, trong đó các trái chủ được cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định (Phạm Văn Hùng, 2020). Theo Từ điển thuật ngữ về TTCK (Dictionary of stock market terms) thì Trái phiếu được hiểu là: Giấy nhận nợ; giấy nợ của chính phủ, chính quyền thành phố hoặc công ty phát hành.
Nó biểu thị một khế ước ràng buộc giữa công ty PHTP và trái chủ, qua nó người PHTP hứa chi trả lãi (thường là nửa năm) cho trái chủ về số tiền cho vay và được hoàn lại tiền vay (hoàn trái) theo số tiền ghi trên phiếu, hoặc mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn. Không giống các cổ đông là những người làm chủ một phần công ty, họ là những chủ nợ của công ty này. Vì thế họ có quyền đòi hỏi chi trả, dù cho các tài sản phải bán đi để đáp ứng cho nhu cầu tăng vốn (Lê Công Thượng, 2004). Theo LCK 2006 thì “Trái phiếu được hiểu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu loại chứng khoán đó đối với một phần vốn nợ của TCPH”1.
Trong khi đó, theo các quy định của LCK 2019 thì: “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của TCPH”2. Theo quan điểm của tác giả, việc SĐBS này là nhằm phân biệt rõ giữa 2 khái niệm “cổ phiếu” và “trái phiếu” bởi LCK 2006 và LCK 2019 đều cùng quy định: “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của TCPH”. Như vậy, việc sửa đổi khái niệm trái phiếu như LCK 2019 là nhằm xác 1 Khoản 3 Điều 6 LCK 2006. 2 Khoản 3 Điều 4 LCK 2019.
14 định rõ: Trái phiếu là “nợ” mà chưa phải là “vốn”, trái phiếu chỉ có thể trở thành cổ phiếu và được xem là “vốn - vốn chủ sở hữu” khi và chỉ khi nó được “chuyển đổi thành cổ phần của chính TCPH ra loại trái phiếu đó”. Xét về bản chất, PHTP chính là một hình thức vay nợ. Người mua và sở hữu trái phiếu được gọi là trái chủ, chính là chủ nợ của TCPH. Trái chủ được hưởng các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ nợ.
Họ sẽ được ưu tiên thanh toán khi TCPH bị giải thể hoặc phá sản theo thỏa thuận với TCPH và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan. Thời gian đáo hạn của Trái phiếu là hữu hạn (phù hợp theo PAPH) và tiền lãi trái phiếu thường là ổn định so với mệnh giá (trừ các trường hợp biến động của thị trường hoặc do yếu tố cung/cầu). Khái niệm về trái phiếu chuyển đổi Theo quy định của LDN 2020 thì “Công ty TNHH 2 thành viên trở lên được PHTP phù hợp theo các quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan; ngoài ra, việc PHTP riêng lẻ còn phải tuân thủ các quy định cụ thể về phát hành riêng lẻ của Luật doanh nghiệp”3. Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 NĐ 153/2020 thì Doanh nghiệp thực hiện việc PHTP gồm 2 loại là công ty CP và công ty TNHH được thành lập và hoạt động hợp pháp theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
Như vậy, theo các quy định nêu trên, về nguyên tắc, việc PHTP được áp dụng đối với cả 2 loại hình doanh nghiệp là: Công ty CP và Công ty TNHH (nhưng chỉ là Công ty TNHH 2 thành viên trở lên). Đối với loại TPCĐ thì dường như lại có những hạn chế nhất định: “TPCĐ được hiểu là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của cùng một TCPH theo các điều kiện đã được xác định trong PAPH”4. Tuy nhiên, khái niệm này đã được sửa đổi và làm rõ theo hướng như sau: “TPCĐ là loại trái phiếu được phát hành bởi công ty CP, loại trái phiếu này có thể chuyển đổi thành loại cổ phiếu phổ thông của chính doanh nghiệp phát hành ra nó theo các điều kiện và điều khoản đã được xác định rõ tại phương án PHTP đó”5. Như vậy, có thể thấy rõ, ý chí của các nhà làm luật khi sửa đổi khái niệm “TPCĐ” đã giới hạn rõ: chủ thể thực hiện việc phát hành TPCĐ phải là “Công ty CP6” mà 3 Khoản 4 Điều 46 LDN 2020.
6 Điểm a Khoản 3 Điều 9 NĐ 153/2020. 15 không có “Công ty TNHH 2 thành viên trở lên”, có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu phổ thông của chính doanh nghiệp phát hành mà không phải là chuyển đổi sang doanh nghiệp khác. Để làm rõ, bên cạnh khái niệm “Trái phiếu” được quy định trong Luật thì khái niệm “TPDN” lại được nghi nhận tại các Nghị định hướng dẫn của Luật Chứng khoán. Theo đó, NĐ 153/2020 quy định: “TPDN là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành”7.
Trong khi đó, khái niệm này đã từng được NĐ 52/2006 hướng dẫn LCK 2006 quy định: “TPDN là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữSu trái phiếu”. Như vậy, có thể thấy, khái niệm TPDN theo quy định của pháp luật về chứng khoán năm 2019 có những đặc điểm, tính chất khác với các quy định của pháp luật về chứng khoán 2006. Trước đây, bên cạnh “TPDN”, còn có khái niệm “TPCP”: “TPCP là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước”8. Tuy nhiên, quy định này đã được bãi bỏ9 và không còn khái niệm “TPCP”.
Thay vào đó, Nghị định số 95/2018 quy định về từng loại “Công cụ nợ” của Chính phủ trên TTCK như: Trái phiếu xanh, Trái phiếu ngoại tệ, Công trái xây dựng tổ quốc, v. Tóm lại, tùy theo chủ thể phát hành hoặc tính chất của loại trái phiếu mà tên gọi của nó có thể được gọi chung là: TPDN (đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp) hay TPCP (đối với chủ thể phát hành là Bộ Tài chính – Cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ/ủy quyền). Tuy nhiên, dù chủ thể phát hành là tổ chức nào thì về bản chất: Trái phiếu được hiểu là một loại công cụ nợ của tổ chức phát hành ra nó. Khái niệm về trái phiếu quốc tế Theo quy định của NĐ 23/1995: “TPQT là chứng chỉ vay nợ có mệnh giá, có thời hạn, có lãi, phát hành để vay vốn trên thị trường vốn quốc tế phục vụ nhu 7 Khoản 1 Điều 4 NĐ153/2020.
16 cầu đầu tư phát triển kinh tế của Việt Nam”10. Tuy nhiên, khái niệm này đã có sự thay đổi như sau: “TPQT là chứng chỉ vay nợ có mệnh giá, có thời hạn, có lãi, do Chính phủ hoặc các doanh nghiệp của Việt Nam phát hành để vay vốn trên thị trường tài chính quốc tế phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế. TPQT gồm: (i) TPCP: là TPQT do Chính phủ ủy quyền cho Bộ Tài chính phát hành; và (ii) TPDN: là TPQT do các DNVN tự phát hành có hoặc không có bảo lãnh Chính phủ”11. Theo cách định nghĩa của NĐ 53/2009 nêu trên thì khái niệm này đã mở rộng đối tượng phát hành là các DNVN.
Theo đó “DNVN được hiểu là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”12. Theo đó, các chủ thể khác nhau, có thể bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, v. nếu thõa mãn các điều kiện có liên quan đều có thể phát hành “TPQT” mà không còn chỉ giới hạn ở ngân hàng/doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật không còn đưa ra khái niệm về TPQT.
NĐ 153/2020 thay thế cho NĐ 53/2009 đã không còn quy định về khái niệm “TPQT” là gì. Thay vào đó, Khoản 1 Điều 1 của Nghị định này quy định về việc chào bán, giao dịch TPDN riêng lẻ trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam và việc chào bán TPDN ra TTQT. Theo đó việc CBTP ra TTQT và trái phiếu được chào bán ra TTQT được hiểu là “TPQT”. Cách hiểu này được củng cố bởi các quy định hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc PHTP ra TTQT như sau: “Trái phiếu phát hành ra TTQT là trái phiếu do TCPH chào bán cho người không cư trú và không lưu ký tại một tổ chức lưu ký trên lãnh thổ Việt Nam (sau đây gọi tắt là TPQT)”13.
Theo đó, Khoản 2 và 3 Điều 3 TT 10/2022/TT-NHNN quy định rõ: TCPH chính là bên đi vay đối với khoản vay nước ngoài dưới hình thức phát hành TPQT và khoản TPQT này được hiểu là khoản vay trung, dài hạn nước ngoài dưới hình thức phát hành TPQT của TCPH không được Chính phủ bảo lãnh. 13 Khoản 1 Điều 3 TT 10/2022/TT-NHNN. 17 Như vậy, về mặt bản chất, TPQT cũng là một công cụ nợ của TCPH như các loại trái phiếu khác. Tuy nhiên, TPQT có những đặc điểm riêng như được nêu chi tiết tại Mục 1.
Phân loại và đặc điểm trái phiếu 1. Căn cứ phân loại trái phiếu Tùy theo các mục tiêu tiếp cận khác nhau mà người ta có thể phân loại trái phiếu theo các tiêu chí khác nhau bằng cách dựa vào các tính chất và/hoặc chủ thể phát hành, v. Theo đó, nếu căn cứ vào chủ thể phát hành có thể có: TPCP, Trái phiếu chính quyền địa phương, TPDN. Trong khi đó, nếu căn cứ vào tính chất chuyển nhượng thì có thể có: Trái phiếu vô danh hoặc Trái phiếu ghi danh.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Đề án này, tác giả chủ yếu đề cập đến loại TPCĐ do công ty BĐS niêm yết phát hành và nó thuộc nhóm “TPDN” và là loại TPDN phát hành ra TTQT và được gọi chung là “TPQT”.