Đặt vấn đề Với những ưu điểm nổi bật của mình, kết cấu bê tông cốt thép dùng cáp ứng suất trước (BTCT ƯST) căng sau đang ngày càng nhiều ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng như dầm cầu, dầm sàn,. Những công trình này thường có chi phí rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống con người, cũng như nền kinh tế xã hội như Hình 1.1: Cầu Tân Vũ, Hải Phòng là cầu vượt biển dài nhất của Việt Nam, phục vụ việc vận tải hàng hóa của khu vực tam giác kinh tế Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng.2: Cầu vượt Metro Văn Thánh, Tp. HCM sẽ được xây dựng trong tương lai có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết ùn tắc giao thông cũng như góp phần giảm khí thải gây ô nhiễm môi trường hay Hình 1.3: Bệnh viện Nam Sài Gòn dùng sàn ứng suất trước, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân tại khu vực Nam Sài Gòn.1: Cầu Tân Vũ, Hải Phòng 16 Hình 1.2: Cầu vượt Metro Văn Thánh, Tp. HCM sẽ được xây dựng trong tương lai Hình 1.3: Bệnh viện Nam Sài Gòn 17 Một bộ phận rất quan trọng trong cấu kiện này chính là liên kết neo, sự hư hỏng của liên kết neo sẽ làm giảm năng lực làm việc của cấu kiện dẫn đến giảm khả năng phục vụ cũng như khả năng chịu lực của kết cấu từ đó có thể gây ra những hậu quả nặng nề như sụp đổ công trình, ảnh hưởng đến sự an toàn và tính mạng của con người.
Có thể thấy rõ sự ảnh hưởng khi các công trình xảy ra hư hỏng hay gặp sự cố qua các Hình 1.4: Sự sụp đổ của cầu Mahakam II, Indonesia.5: Sự sụp đổ của cầu Mississippi, Mỹ Hình 1.6: Vết nứt trên dầm cầu một bãi đậu xe ở Mỹ, Hình 1.7: Vết nứt cầu vượt Lăng Cha Cả, Việt Nam, Hình 1.8: Vết nứt trên cầu Vĩnh Tụy.4: Sự sụp đổ của cầu Mahakam II, Indonesia.5: Sự sụp đổ của cầu Mississippi, Mỹ Hình 1.6: Vết nứt trên dầm cầu một bãi đậu xe ở Mỹ 19 Hình 1.7: Vết nứt cầu vượt Lăng Cha Cả, Việt Nam Hình 1.8: Vết nứt trên cầu Vĩnh Tụy 20 Do đó, việc thường xuyên theo dõi và chẩn đoán hư hỏng của kết cấu nói chung, của vùng neo cáp nói riêng để từ đó đưa ra các kết luận và phương án xử lý giải quyết hư hỏng kịp thời là một việc làm có ý nghĩa quan trọng. Có nhiều phương pháp để phát hiện hư hỏng của kết cấu, trong đó phương pháp trở kháng “hứa hẹn sẽ theo dõi được những hư hỏng nhỏ phôi thai tại những vị trí quan trọng” như liên kết neo. Phương pháp trở kháng là sử dụng tích hợp thiết bị cảm biến PZT ( Lead Zirconate Titanate) với kích thích ở một dải tần số cao để cung cấp khả năng tự theo dõi các thay đổi động học của kết cấu. Ở tần số kích thích cao như vậy, phản ứng chủ yếu là dạng cục bộ và hư hỏng mới bắt đầu như các vết nứt nhỏ và tách lớp vật liệu, đưa ra những thay đổi có thể có được trong các đặc trưng trở kháng.
Các tần số cao cũng hạn chế các diện tích cảm biến của thiết bị truyền động. Khu vực cảm biến hạn chế này giúp cô lập các ảnh hưởng của hư hỏng trên tín hiệu trở kháng từ những thay đổi khối lượng, độ cứng và điệu kiện biên ở khu vực xa hư hỏng. Vì vậy , kỹ thuật này sẽ hữu ích trong việc xác định và theo dõi hư hỏng trong những khu vực kết cấu mà tính toàn vẹn kết cấu cần phải được đảm bảo tại mọi thời điểm. Việc sử dụng phương pháp trở kháng có thể giúp theo dõi kết cấu bằng cách thu thập dữ liệu.
Tuy nhiên dữ liệu thu thập lại trải dài trên một miền tần số rộng, việc lựa chọn miền tần số để đánh giá hư hỏng của kết cấu cho chuẩn xác là một công việc không hề dễ dàng. Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, đặc biệt là mảng trí tuệ nhân tạo điển hình là mạng Neural nhân tạo (Artificial Neural Networks - ANNs) đã cho phép chúng ta có thể ứng dụng được trong chẩn đoán hư hỏng kết cấu nhằm tiết kiệm công sức con người và nâng cao hiệu quả tính toán.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là chẩn đoán tổn hao ứng suất của cáp trong dầm BTCT ƯST sử dụng trở kháng có xét đến độ nhạy của miền tần số. Mạng ANNs để tìm miền tần số nhạy cảm với hư hỏng là tổn hao ứng suất trong cáp, dựa vào miền tần số nhạy cảm để chẩn đoán tổn hao ứng suất trong cáp. Để đạt được mục tiêu trên, các vấn đề nghiên cứu trong phạm vi luận văn sẽ được thực hiện: 21 - Sử dụng phần mềm ANSYS để mô phỏng các kết cấu, so sánh kết quả thực nghiệm so với kết quả mô phỏng.
- Sử dụng mạng ANNs trong phần mềm IBM SPSS Statistics để tiến hành tìm miền tần số nhạy cảm và chẩn đoán hư hỏng kết cấu. Cụ thể sẽ thực hiện trên 3 bài toán: + Bài toán 1: Mô hình dầm nhôm có điều kiện biên tự do, với hư hỏng là vết nứt xuất hiện và phát triển ở giữa dầm, theo dõi tín hiệu trở kháng với hàng loạt các vết nứt khác nhau. So sánh với thí nghiệm thực tế, sau đó ứng dụng vào mạng ANNs để chẩn đoán hư hỏng. Mục đích đánh giá tính khả thi trong mô phỏng, cũng như tính khả thi trong việc chẩn đoán hư hỏng bằng mạng ANNs.
+ Bài toán 2: Mô hình vùng neo dầm BTCTƯST căng sau với 1 dây cáp được kéo căng đã được thí nghiệm thực tế. Hư hỏng trong dầm chính là tổn hao lực căng cáp với hàng loạt trường hợp. So sánh với thí nghiệm thực tế, sau đó ứng dụng vào mạng ANNs. Mục đính đánh giá tính khả thi trong mô phỏng vùng neo bằng ANSYS, cũng như tính khả thi trong việc chẩn đoán tổn hao lực căng cáp bằng mạng ANNs.
+ Bài toán 3: Mô hình vùng neo dầm BTCT ƯST căng sau của một dầm cầu bê tông cốt thép với 5 dây cáp của một công trình thực tế. Hư hỏng trong dầm chính là tổn hao lực căng cáp tại các vị trí cáp. Mục đích áp dụng phương pháp đã thực hiện ở bài toán số 1 và bài toán số 2 để tìm vị trí cáp bị tổn hao lực căng cũng như chẩn đoán được sự tổn hao này. Các bài toán này sẽ được trình bày rõ hơn ở CHƯƠNG 4.3 Tính cần thiết và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Trong quá trình sử dụng, lực ứng suất trước của cáp trong BTCT ƯST có thể bị tổn hao do nhiều nguyên nhân.
Loại hư hỏng này không chỉ gây tổn hại nghiêm trọng đến kết cấu mà con nguy hiểm đến tính mạng và tài sản của người sử dụng. Vì vậy, việc theo dõi và chẩn đoán tổn hao ứng suất xảy ra là việc làm cần thiết. Kỹ thuật trở kháng là kỹ thuật sử dụng các tấm cảm biến có diện tích hạn chế, khối lượng rất nhỏ vì vậy thiết bị này sẽ không làm ảnh hưởng đến sự làm việc của kết cấu. Vì vậy, kĩ thuật này rất phù hợp trong việc xác định và theo dõi hư hỏng trong những khu vực kết cấu mà tính toàn vẹn kết cấu cần phải được đảm bảo tại mọi 22 thời điểm.
Các phương pháp đánh giá hư hỏng dựa trên tín hiệu trở kháng như phương pháp RMSD, phương pháp MAPD,. có thể cung cấp cho nhà nghiên cứu về sự xuất hiện của hư hỏng thông qua việc thay đổi các chỉ số trong từng trường hợp hư hỏng nhưng không thể cung cấp chính xác hư hỏng xảy ra. Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu phương pháp có thể chẩn đoán chính xác hư hỏng xảy ra trong kết cấu, cụ thể là đưa một chẩn đoán chính xác về tổn hao lực căng cáp. Nghiên cứu đề xuất một phương pháp dựa trên việc thu thập tín hiệu trở kháng từ mô hình phần tử hữu hạn, kết hợp với phương pháp RMSD và ANNs MLP để tìm miền tần số nhạy cảm nhất từ đó chẩn đoán chính xác tổn hao ứng suất xảy ra của cáp trong dầm BTCT ƯST để các kỹ sư có thể đưa ra phương án xử lý hư hỏng phù hợp.4 Cấu trúc của luận văn Cấu trúc luận văn bao gồm 5 chương : - Chương 1.
Giới thiệu: giới thiệu sơ lược về đề tài, mục tiêu và nội dung luận văn, tính cần thiết, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu và cấu trúc luận văn.Tổng quan nghiên cứu: Giới thiệu các nghiên cứu trong và ngoài nước về phương pháp trở kháng , cũng như ứng dụng của ANNs để đánh giá hư hỏng của kết cấu bằng phương pháp trở kháng. Cơ sở lý thuyết: Cơ sở lý thuyết và phương pháp dùng để đánh giá hư hỏng kết cấu. - Chương 4: Các bài toán ứng dụng: Giới thiệu các bài toán ứng dụng, đồng thời đưa ra các nhận xét về kết quả đạt được sau khi xử lý và phân tích số liệu. - Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Nêu các kết luận và hướng phát triển của đề tài.
- Tài liệu tham khảo trong luận văn. - Phụ lục: gồm trình tự huấn luyện trong IBM SPSS và kết quả liên quan. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Trên thế giới Liang và cộng sự (1994) đã lần đầu tiên giới thiệu phương pháp trở kháng để để tìm ra hư hỏng của kết cấu, theo đó sự tương tác cơ điện giữa PZT và kết cấu chủ được diễn tả như Hình 2.1, trong nghiên cứu này tác giả đã đã sử dụng tần số kích thích cao, lớn hơn 30 kHz thông qua tấm cảm biến PZT được dán lên kết cấu chủ để tìm ra những thay đổi cơ học của kết cấu. Kết quả đã rút ra được sự liên quan giữa trở kháng động lực học của miếng PZT với trở kháng cơ học của kết cấu chủ bằng nhiều thí nghiệm khác nhau.1: Mô hình 1-D tương tác cơ - điện giữa tấm PZT và kết cấu chủ Sun và cộng sự (1995) đã sử dụng phương pháp trở kháng để kiểm tra kết cấu dàn, bằng cách sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá tình trạng hư hỏng.
Ngoài ra tác giả cũng đánh giá ảnh hưởng ở các phạm vi tần số khác nhau và mức độ kích thích như thế nào khi theo dõi tín hiệu trở kháng trên một kết cấu dàn như Hình 2. Kết quả cho thấy ở các vị trí khác nhau, nên sử dụng các PZT khác nhau để theo dõi kết cấu, ở miền tần số càng cao phạm vi theo dõi kết cấu càng nhỏ.