Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dinh dưỡng vói sức khỏe và bệnh tật 7. Vai trò của (linh dưỡng đối với sức khỏe trẻ em Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn đưa vào cơ thể và tình trạng sức khoẻ.
Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [15]. Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển do đó nhu cầu các chất dinh dưỡng đòi hỏi rất cao. Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ, ảnh hưởng đến bệnh tật, làm bệnh dễ phát sinh, kéo dài thời gian mắc bệnh hoặc làm bệnh nặng hơn ở những trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD) [4]. Ngoài ra còn có một mối liên quan mật thiết giữa dinh dưỡng và nhiễm khuẩn.
Đó là một vòng xoắn bệnh lý bởi thiếu dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể dần đến dễ nhiễm khuẩn. Mặt khác nhiễm khuẩn làm suy sụp thêm tình trạng dinh dưỡng do giảm sự ngon miệng, giảm khả năng tiêu hoá hấp thu và tăng nhu cầu sử dụng chất dinh dưỡng dẫn đến kéo dài thời gian điều trị. Vì vậy chế độ ăn của trẻ ở mồi giai đoạn có vai trò rất lớn trong sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của trẻ [12], [25], 1. Hậu quả của SDD trong bệnh viện SDD làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi, chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp.
Từ những năm 1987 Detsky và cộng sự đã nghiên cứu trên 202 người bệnh phẫu thuật đường tiêu hóa ở bệnh viện thực hành Toronto, kết quả cho thấy 10% bị biến chứng liên quan đến dinh dưỡng và tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng lên tới 67%. Nghiên cứu cũng kết luận SDD liên quan chặt chẽ với thời gian nằm viện. Thời gian nằm viện càng kéo dài thì tỷ lệ suy dinh dưỡng càng cao [27]. SDD làm tăng biến chứng, làm kéo dài thời gian nằm viện do đó làm tăng chi phí điều trị.
Năm 1992, quỹ tiền tệ quốc gia Anh ước tính dinh dưỡng hỗ trợ cho người bệnh SDD sẽ tiết kiệm cho dịch vụ sức khỏe quốc gia 226 triệu Bảng Anh mỗi năm. Tuy nhiên, bác sỹ lâm sàng và các nhân viên y tế lại ít quan tâm đến vấn đê dinh dưỡng trong bệnh viện [29]. Nghiên cứu của Seeker và Jeejeebhoy (2007) cho biết có khoảng 25- 50% người bệnh nhập viện vì những bệnh lý cấp tính có biểu hiện của SDD nhưng nhân viên y tế chỉ phát hiện được 12,5% trong số đó [33]. Một nghiên cứu ở Ý trên 1274 người bệnh nhập viện cho cùng điều trị nội trú hay phẫu thuật như nhau thấy ở người bệnh nằm liệt giường có 52 người chết và 149 người có thời gian điều trị dài hơn 3 ngày [28].
Tất cả những người bệnh có thời gian nằm viện kéo dài hơn 3 ngày so với những người bệnh khác đều có chung đặc điểm là BMI thấp, hoặc có nguy cơ SDD, sụt cân trước trong thời gian nằm viện và những người bệnh này thường kèm theo nhiều biến chứng khi nằm viện. Người bệnh suy dinh dưỡng có 65% nguy cơ thời gian nằm viện kéo dài từ ngày 7-22 so với 4-13 ngày nằm viện ở nhóm không có nguy cơ [26], [28]. Nhìn chung các nghiên cứu đều thấy được mối liên quan giữa sự sụt cân trong thời gian nằm viện với thời gian nằm viện kéo dài và đó chính là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hay biến chứng nặng ở những nhóm người bệnh nguy cơ suy dinh dưỡng. Chi phí viện phí ước tính tăng lên 20% cho người bệnh suy dinh dưỡng.
Theo kết quả báo cáo tại Hội nghị quốc gia về dinh dưỡng lâm sàng thì tình trạng dinh dưỡng bệnh nhi nội trú bị bệnh cấp tính ở Bệnh viện Nhi đồng I năm 2007: SDD thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi): là 17,5%. SDD thấp còi (chiều cao/tuổi) là 11,6%. SDD cấp tính (cân nặng/chiều cao) là 9,3%. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2010) có 13% trẻ dưới 5 tuổi bị viêm phổi điều trị nội trú bị SDD, tỷ lệ cao nhất ở trẻ 13-26 tháng tuổi và thời gian điều trị nội trú của nhóm trẻ SDD dài hơn 2,1 ngày 6 so với trẻ thường (8.3 ngày so với 6.2 ngày) và có 3% trẻ tử vong tại Bệnh viện Nhi Trung ương và tất cả người bệnh này đều bị SDD [14], [22].
SDD rất phổ biến ở người bệnh điều trị nội trú đặc biệt là người bệnh nặng, ngoài việc điều trị nguyên nhân (bệnh chính) thì việc can thiệp dinh dưỡng sớm đóng vai trò quan trọng giúp giảm biến chứng, hồi phục sớm, nâng cao hiệu quả điều trị là điều cần thiết. Điều này cần được các nhân viên y tế quan tâm, đặc biệt là đội ngũ Điều dưỡng viên- những người trực tiếp chăm sóc cho người bệnh. Hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về nhu cầu năng lượng hàng ngày theo lứa tuổi cho trẻ em Thấy rõ được tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sức khỏe trẻ em, WHO đã khuyến cáo nhu cầu năng lượng theo lứa tuổi cho trẻ với mục đích giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe trẻ em trên toàn cầu [4], [9]. Nhu cầu năng lượng theo lứa tuổi cụ thể: Tháng và tuổi Nhu cầu Dưới 3 tháng: 110 kcal/kg/ngày 3- 6 tháng: 100- 110 kcal/kg/ngày Trên 6 tháng: 100 kcal/kg/ngày 1-3 tuổi: 90- 95 kcal/kg/ngày 3-6 tuổi: 80- 90 kcal/kg/ngày 6-9 tuổi: 70- 80 kcal/kg/ngày 9-12 tuổi: 60-70 kcal/kg/ngày 12-15 tuổi: 50- 60 kcal/kg/ngày 15-18 tuổi: 40- 50 kcal/kg/ngày SDD là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em.
Ở Việt Nam, SDD bệnh viện là vấn đề phổ biến ở cả trẻ em và cả người lớn. Nghiên cứu của Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy tỷ lệ SDD của bệnh nhi nhập viện tại khoa 7 Dinh dưỡng năm 2001 là 46,8%, năm 2002 là 53,2%. Nghiên cứu của Bệnh viện Nhi đồng I cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ em nhập viện là 17,46% và tỷ lệ sụt cân trong thời gian nằm viện là 28% [13], [22]. Nguyên nhân SDD ở trẻ nhỏ là bà mẹ thiếu kiến thức, kém thực hành về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, cho ăn bổ sung quá sớm trước 4 tháng tuổi.
Chất lượng bữa ăn không đảm bảo, khẩu phần ăn thiếu năng lượng, protein và vi chất dinh dưỡng còn rất phổ biến, chăm sóc, hỗ trợ của y tế còn chưa tốt [3], [11]. Khái quát về điều dưỡng và chăm sóc về dinh dưỡng 1. Điều dưỡng và nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân Điều dưỡng là một ngành riêng biệt, người ĐDV có nhiều vai trò khi họ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK). Công việc của họ thường thực hiện một cách đồng bộ chứ không tách biệt.
Hội Điều dưỡng Mỹ, hội Điều dưỡng các nước Singapore, Thái lan, Philipin đã nêu rõ vai trò chức năng của người ĐDV vừa là người chăm sóc, người truyền đạt thông tin, người giáo viên, người tư vấn và người biện hộ cho người bệnh [16]. Nguyên tắc thực hành điều dưỡng của Virgina Henderson liên quan tới các nhu cầu cơ bản của con người. Học thuyết Henderson - chuyên gia điều dưỡng người Mỹ đã giúp chúng ta xác định nội dung về khung thực hành điều dường trong chăm sóc người bệnh (CSNB) nhằm đáp ứng các nhu cầu của họ bao gồm 14 nội dung sau [16]: Đáp ứng nhu cầu về hô hấp và tim mạch Đáp ứng nhu cầu về ăn uống. Giúp đỡ người bệnh bài tiết.
Giúp đỡ người bệnh về thay đổi, duy trì tư thế, vận động và tập luyện. Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ. Giúp người bệnh mặc và thay quần áo. Giúp người bệnh duy trì thân nhiệt.
------ 8 Giúp người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày. Giúp người bệnh tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện. Giúp người bệnh trong sự giao tiếp. Giúp người bệnh thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng.
Giúp người bệnh lao động, làm việc để tránh mặc cảm là người vô dụng. Giúp người bệnh trong những hoạt động vui chơi giải trí. Giúp người bệnh có kiến thức về Y học. Henderson cho ràng thiên chức nghề nghiệp của điều dường là giúp người bệnh đáp ứng được nhu cầu hàng ngày của họ.
Do bệnh tật mà một loạt các nhu cầu của người bệnh không được thỏa mãn, người điều dưỡng phải đón trước và đáp ứng các nhu cầu đó của người bệnh, nghĩa là cần giúp đỡ, chăm sóc họ, cung cấp các điều kiện để người bệnh thỏa mãn nhu cầu của họ. Nghiên cứu học thuyết của Henderson gợi ý cho người điều dưỡng khi tiếp cận với người bệnh cần phải đánh giá và chẩn đoán những nhu cầu của họ trên cơ sở đó hỗ trợ họ đáp ứng những nhu cầu cơ bản. Khái niêm về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và chăm sóc điều dưỡng Khái niệm về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế đã ghi rõ: “Chăm sóc người bệnh (CSNB) trong bệnh viện bao gồm sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh” [7], Khái niệm về chăm sóc điều dưỡng Tài liệu hướng dẫn đánh giá chất lượng CSNB trong các bệnh viện của Hội Điều dưỡng Việt Nam ghi rõ: “CSĐD là những chăm sóc chuyên môn của người điều dưỡng đối với người bệnh từ khi vào viện cho tới lúc ra viện. Nội dung chính bao gồm: chăm sóc thế chất, tinh thần, dinh dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo 9 dõi, sử dụng thuốc, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người bệnh.
CSĐD bắt đầu từ lúc người bệnh đến khám, vào viện và cho đến khi người bệnh ra viện hoặc tử vong” [18]. Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và nhiệm vụ chăm sóc về dinh dưỡng của Điều dưỡng viên Nguyên tắc CSNB trong bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế được thê hiện trong thông tiỉ 07/2011/TT-BYT, gồm ba nguyên tắc cơ bản sau[7]: Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, đảm bảo hài lòng, chất lượng và an toàn.