Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh trong quá trình điều trị nội trú giữ vai trò thiết yếu, đặc biệt đối với nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lý ác tính như ung thư hạ họng thanh quản. Ung thư hạ họng thanh quản là loại ung thư đường hô hấp phổ biến tại Việt Nam, chiếm khoảng 2% tổng số các ca ung thư thường gặp và đứng thứ hai trong các ung thư vùng đầu cổ (chỉ sau ung thư vòm mũi họng), thường gặp ở nam giới trong độ tuổi từ 55 đến 65 tuổi. Khối u ác tính làm biến đổi quá trình chuyển hóa bình thường, làm tăng tiêu hao năng lượng, phá hủy các khối cơ và dẫn đến tình trạng suy kiệt cơ thể. Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến suy giảm miễn dịch, tăng tỷ lệ biến chứng, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị.

Tại các cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng là lực lượng trực tiếp theo dõi, hỗ trợ và thực hiện các can thiệp chăm sóc người bệnh. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, đưa công tác dinh dưỡng tiết chế thành tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện. Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương là đơn vị chuyên khoa đầu ngành tiếp nhận điều trị các bệnh lý vùng tai mũi họng và đầu cổ; trong đó Khoa Ung bướu tiếp nhận trung bình từ 1 đến 3 người bệnh ung thư hạ họng thanh quản nhập viện điều trị mỗi ngày. Xuất phát từ thực tiễn chăm sóc lâm sàng, tác giả Bùi Đức Hiến đã thực hiện báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Điều dưỡng Chuyên khoa I với đề tài "Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh ung thư hạ họng thanh quản của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương".

Đề tài xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh ung thư hạ họng thanh quản của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương trong tháng 9 và tháng 10 năm 2020.
  2. Đề xuất một số giải pháp cải thiện công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh ung thư hạ họng thanh quản của điều dưỡng tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian tại Khoa Ung bướu thuộc Trung tâm Ung bướu và Phẫu thuật Đầu cổ - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, với thời gian thu thập số liệu tập trung vào tháng 9 và tháng 10 năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề xây dựng trên hệ thống khung pháp lý và lý luận chuyên ngành điều dưỡng lâm sàng hiện hành của Bộ Y tế Việt Nam và các tổ chức y tế quốc tế:

  • Khung pháp lý và quy định chuyên môn: Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng; Thông tư số 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện (quy định 12 nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng, trong đó Điều 7 quy định nhiệm vụ chăm sóc dinh dưỡng); Thông tư số 08/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác dinh dưỡng, tiết chế trong bệnh viện (Điều 2 quy định việc đo chiều cao, cân nặng khi vào viện; Điều 17 và Điều 21 quy định trách nhiệm của điều dưỡng trưởng và nhân viên y tế); Quyết định số 6858/QĐ-BYT ban hành Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (Phần C7 về Dinh dưỡng và tiết chế); Quyết định số 1215/QĐ-BYT phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng giai đoạn đến năm 2020.
  • Cơ sở lý thuyết điều dưỡng và dinh dưỡng: Học thuyết 14 nhu cầu cơ bản của con người theo Virginia Henderson; các định nghĩa điều dưỡng của Florence Nightingale (1860) và Hiệp hội Điều dưỡng Hoa Kỳ (ANA - 1965); quy trình chăm sóc dinh dưỡng lâm sàng gồm 4 bước (đánh giá tình trạng dinh dưỡng, chẩn đoán dinh dưỡng, can thiệp dinh dưỡng, theo dõi và đánh giá kết quả); mô hình làm việc nhóm chăm sóc dinh dưỡng tiết chế trong bệnh viện.

Về phương pháp thực hiện:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của điều dưỡng và phỏng vấn trực tiếp người bệnh nội trú để đối chiếu chéo kết quả thực hành.
  • Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu: Toàn bộ 14 điều dưỡng đang trực tiếp làm công tác chăm sóc tại Khoa Ung bướu (loại trừ điều dưỡng trưởng khoa) và 50 người bệnh được chẩn đoán ung thư hạ họng thanh quản đang điều trị nội trú tại khoa.
  • Nguồn dữ liệu và công cụ thu thập: Sử dụng bộ phiếu khảo sát cấu trúc dành cho điều dưỡng (gồm các phần: thông tin cá nhân, khối lượng công việc, kiến thức 5 nhóm chuyên môn, thái độ 8 tiêu chí, thực hành 11 nội dung) và phiếu phỏng vấn người bệnh về các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng thực tế nhận được từ điều dưỡng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa cơ bản về điều dưỡng, dinh dưỡng điều trị học, suy dinh dưỡng và bệnh lý ung thư hạ họng thanh quản. Tác giả phân tích chuyên sâu ba vai trò chính của dinh dưỡng lâm sàng: dinh dưỡng là phương pháp điều trị chủ yếu đối với một số bệnh lý; dinh dưỡng có vai trò hỗ trợ điều trị nhằm tăng sức đề kháng, rút ngắn thời gian dùng kháng sinh, giảm biến chứng, giảm tỷ lệ tử vong; dinh dưỡng có vai trò tích cực trong phòng ngừa suy kiệt ở bệnh nhân ung thư.

Đồng thời, chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về công tác chăm sóc dinh dưỡng của điều dưỡng. Các nghiên cứu quốc tế (Kobe - 2006, Holst - 2009, Boaz M. - 2013, Adeline E.M - 2014, Mogre V. - 2017) đều phản ánh thực trạng chung: điều dưỡng có thái độ tích cực đối với chăm sóc dinh dưỡng nhưng kiến thức chuyên sâu còn thiếu hụt và thực hành chưa tương xứng. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Văn Khang (2009), Nguyễn Hồng Trường (2012), Chu Anh Văn (2013), Lê Thị Thanh Tâm (2015), Bùi Xuân Tiến (2016) cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng và thực hành đạt về dinh dưỡng còn ở mức trung bình, việc sàng lọc dinh dưỡng bằng các bộ công cụ chuyên biệt (như SGA, MNA) chưa được áp dụng rộng rãi. Chương 1 cũng phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến thực hành chăm sóc dinh dưỡng: đặc điểm cá nhân, khối lượng công việc, sự phối hợp liên chuyên khoa và công tác đào tạo, giám sát.

Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết

Chương 2 giới thiệu tổng quan về cơ cấu tổ chức và nhân lực của Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương (quy mô 320 giường bệnh, gồm 270 giường nội trú, 50 giường ngoại trú; 28 khoa/phòng, 2 trung tâm và gần 400 cán bộ công nhân viên) và Khoa Ung bướu (27 cán bộ nhân viên, gồm 15 điều dưỡng; quản lý 45 - 60 bệnh nhân nội trú và 50 - 60 bệnh nhân xạ trị ngoại trú).

Kết quả khảo sát trên 14 điều dưỡng và 50 người bệnh ghi nhận các số liệu thực trạng:

  • Thông tin chung của điều dưỡng: Nữ giới chiếm ưu thế (11/14 điều dưỡng); tuổi trung bình là 33,5 tuổi (từ 26 đến 48 tuổi); trình độ đào tạo gồm trung học (8/14), đại học (4/14), sau đại học (2/14); thâm niên công tác trung bình 9 năm; biên chế chiếm 12/14 người. Về khối lượng công việc, hơn một nửa điều dưỡng chăm sóc từ 5 - 10 bệnh nhân/ngày, có 2/14 người chăm sóc trên 10 bệnh nhân/ngày; 5/14 điều dưỡng đánh giá công việc ở mức quá tải. 9/14 điều dưỡng từng được tập huấn về chăm sóc dinh dưỡng và 11/14 người cho biết có sự kiểm tra, giám sát từ cấp quản lý.
  • Kiến thức chăm sóc dinh dưỡng: Đánh giá chung có 8/14 (57,1%) điều dưỡng có kiến thức đạt. Tỷ lệ đạt theo 5 nhóm nội dung: Nhiệm vụ chăm sóc dinh dưỡng đạt cao nhất (10/14 người - 71,4%), kiến thức về dinh dưỡng và suy dinh dưỡng đạt 9/14 người (64,3%), kiến thức về một số chế độ ăn thường dùng đạt 8/14 người (57,1%), kiến thức về đánh giá tình trạng dinh dưỡng đạt 8/14 người (57,1%), và kiến thức về hỗ trợ dinh dưỡng đạt thấp nhất (7/14 người - 50,0%). Đáng lưu ý, chỉ có 3/14 điều dưỡng biết đầy đủ các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng; 13/14 người biết phương pháp chỉ số khối cơ thể (BMI), nhưng chỉ có 5-6 người biết đến việc sử dụng các bộ công cụ sàng lọc (SGA, MNA); không có điều dưỡng nào (0/14) nắm được đúng và đầy đủ tất cả các bước của quy trình chăm sóc dinh dưỡng.
  • Thái độ của điều dưỡng: 11/14 (78,5%) điều dưỡng có thái độ tích cực chung. Tỷ lệ đồng thuận cao xuất hiện ở các quan điểm: điều dưỡng phải coi trọng công tác chăm sóc dinh dưỡng (14/14), điều dưỡng cần biết nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh (13/14), hướng dẫn tư vấn dinh dưỡng là trách nhiệm của điều dưỡng (13/14). Hai quan điểm có tỷ lệ tích cực thấp hơn là việc áp dụng quy định dinh dưỡng trong mọi trường hợp (12/14) và chăm sóc dinh dưỡng giúp giảm chi phí, thời gian điều trị (12/14).
  • Thực hành của điều dưỡng: 10/14 (71,4%) điều dưỡng đạt yêu cầu thực hành chung. Các thao tác có tỷ lệ thực hiện cao gồm: kiểm tra ống thông và dịch tồn dư dạ dày (13/14), cân đo chiều cao khi nhập viện (12/14), cho bệnh nhân ăn đúng lượng - đúng thời gian (12/14), ghi chép phiếu chăm sóc (12/14). Các nội dung thực hiện thấp gồm: nhắc nhở đăng ký suất ăn bệnh viện (6/14) và phối hợp với bác sĩ đánh giá tình trạng dinh dưỡng (7/14).
  • Đánh giá từ phía người bệnh (n=50): 80% người bệnh từ 60 tuổi trở lên và 84% là nam giới. 92% (hoặc 94% theo thống kê tổng hợp) người bệnh được cân đo khi nhập viện; 78% được thông báo tình trạng dinh dưỡng (trong đó 94% do bác sĩ thông báo, chỉ 46% do điều dưỡng thông báo). 82% người bệnh gặp khó khăn ăn uống được điều dưỡng hỗ trợ; 56% - 60% người bệnh có chỉ định ăn bệnh lý được điều dưỡng giám sát. 86% người bệnh được hướng dẫn, tư vấn chế độ ăn (chủ yếu trong quá trình điều trị đạt 84%, khi nhập viện đạt 60%, khi ra viện đạt 52%), nhưng có tới 84% người bệnh không được phát tài liệu hoặc tờ rơi truyền thông dinh dưỡng.

Chương 3: Bàn luận

Tác giả so sánh, đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế. Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt (57,1%) tương đồng với nghiên cứu của Chu Anh Văn tại Bệnh viện Nhi Trung ương, phản ánh hạn chế chung xuất phát từ việc phần lớn điều dưỡng có trình độ sơ cấp/trung học (8/14) với chương trình đào tạo ngắn, nội dung dinh dưỡng chỉ được lồng ghép sơ lược. Việc thiếu hụt kiến thức về các bộ công cụ sàng lọc dinh dưỡng chuyên biệt (SGA, MNA) và quy trình 4 bước chăm sóc dinh dưỡng được bàn luận là nguyên nhân chính khiến điều dưỡng chưa chủ động phối hợp đánh giá dinh dưỡng cùng bác sĩ lâm sàng.

Về thực hành, điểm sáng tại Khoa Ung bướu là 100% điều dưỡng trực tiếp thực hiện kỹ thuật cho người bệnh ăn qua ống thông dạ dày và tuân thủ kiểm tra dịch tồn dư, tốt hơn nhiều so với nghiên cứu của Võ Thị Trang Đài tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (nơi có 43,1% người nhà tự cho ăn qua sonde và 100% điều dưỡng không kiểm tra dịch tồn dư). Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa việc ghi chép hồ sơ bệnh án (12/14 điều dưỡng ghi chép) và thực tế can thiệp hỗ trợ người bệnh, cũng như việc điều dưỡng chưa chú trọng tư vấn dinh dưỡng thời điểm người bệnh ra viện và thiếu công cụ tài liệu/tờ rơi hỗ trợ giáo dục sức khỏe.

Kết quả và đóng góp

Báo cáo chuyên đề đã lượng hóa chi tiết mức độ đáp ứng về kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc dinh dưỡng của điều dưỡng tại một khoa ung bướu chuyên ngành sâu, đồng thời ghi nhận phản hồi khách quan từ người bệnh.

Nội dung khảo sát Tỷ lệ đạt / Tích cực (%) Số lượng tương ứng (n)
Kiến thức chung của điều dưỡng về CSDD 57,1% 8/14 ĐD
- Kiến thức về nhiệm vụ chăm sóc dinh dưỡng 71,4% 10/14 ĐD
- Kiến thức về dinh dưỡng và suy dinh dưỡng 64,3% 9/14 ĐD
- Kiến thức về đánh giá tình trạng dinh dưỡng 57,1% 8/14 ĐD
- Kiến thức về một số chế độ ăn thường dùng 57,1% 8/14 ĐD
- Kiến thức về hỗ trợ dinh dưỡng cho người bệnh 50,0% 7/14 ĐD
Thái độ tích cực của điều dưỡng về CSDD 78,5% 11/14 ĐD
Thực hành đạt của điều dưỡng về CSDD 71,4% 10/14 ĐD
- Kiểm tra vị trí sonde và dịch tồn dư dạ dày 92,9% 13/14 ĐD
- Cân, đo chiều cao người bệnh khi nhập viện 85,7% 12/14 ĐD
- Hướng dẫn chế độ ăn trong quá trình chăm sóc 85,7% 12/14 ĐD
- Phối hợp với bác sĩ đánh giá tình trạng dinh dưỡng 50,0% 7/14 ĐD
- Nhắc nhở người bệnh đăng ký suất ăn bệnh viện 42,9% 6/14 ĐD
Khảo sát ý kiến người bệnh (n=50)
- Người bệnh được cân, đo khi nhập viện 92,0% - 94,0% 46 - 47/50 NB
- Người bệnh được thông báo tình trạng dinh dưỡng 78,0% - 80,0% 39 - 40/50 NB
- Người bệnh khó khăn được ĐD hỗ trợ ăn uống 80,0% - 82,0% Nhóm có khó khăn
- Người bệnh ăn bệnh lý được kiểm tra, giám sát 56,0% - 60,0% Nhóm ăn bệnh lý
- Người bệnh được hướng dẫn, tư vấn chế độ ăn 86,0% 43/50 NB
- Người bệnh được phát tài liệu/tờ rơi khi tư vấn 16,0% 8/50 NB

Dựa trên các bằng chứng thu thập được, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp 2 cấp độ:

  1. Đối với điều dưỡng Khoa Ung bướu: Chủ động tự học tập nâng cao kiến thức dinh dưỡng qua tài liệu hướng dẫn lâm sàng và các chương trình tập huấn; thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ quy định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT; tăng cường phối hợp liên chuyên khoa và hỗ trợ đồng nghiệp; chủ động nhắc nhở người bệnh đăng ký suất ăn bệnh lý và sử dụng tài liệu/tờ rơi khi tư vấn sức khỏe.
  2. Đối với Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương: Xây dựng chuẩn hóa quy trình chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh; tổ chức đào tạo, tập huấn quy trình định kỳ cho điều dưỡng toàn viện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tuân thủ; biên soạn và phát hành các ấn phẩm truyền thông, tài liệu hướng dẫn dinh dưỡng theo từng nhóm bệnh lý chuyên khoa; định kỳ tổ chức hội thảo khoa học và sinh hoạt chuyên đề về dinh dưỡng lâm sàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản nghiên cứu bộc lộ một số giới hạn thực tiễn:

  • Cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ (14 điều dưỡng và 50 người bệnh), được thực hiện đơn trung tâm tại một khoa lâm sàng (Khoa Ung bướu) trong khoảng thời gian ngắn (tháng 9 và tháng 10 năm 2020), do đó tính đại diện cho toàn bộ khối điều dưỡng trong bệnh viện hoặc các cơ sở chuyên khoa khác chưa cao.
  • Nghiên cứu dừng lại ở mức độ mô tả cắt ngang thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành, chưa triển khai can thiệp thử nghiệm lâm sàng hoặc đánh giá hiệu quả sau can thiệp đào tạo quy trình dinh dưỡng.

Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng quy mô khảo sát trên toàn bộ các khoa lâm sàng của bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, áp dụng thử nghiệm quy trình chăm sóc dinh dưỡng chuẩn hóa và tiến hành các nghiên cứu can thiệp đánh giá sự thay đổi chỉ số dinh dưỡng (BMI, nồng độ albumin/protein huyết thanh) của người bệnh ung thư đầu cổ sau khi điều dưỡng được đào tạo chuyên sâu.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị đối với:

  • Học viên, sinh viên ngành Điều dưỡng: Tham khảo cấu trúc khung đánh giá kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) về dinh dưỡng lâm sàng, phương pháp phỏng vấn đối chiếu giữa nhân viên y tế và người bệnh.
  • Điều dưỡng lâm sàng tại các khoa Ung bướu, Tai Mũi Họng, Ngoại khoa: Vận dụng các hướng dẫn về theo dõi dịch tồn dư dạ dày, chỉ định nuôi ăn qua sonde và các bước tư vấn chế độ ăn bệnh lý.
  • Nhà quản lý điều dưỡng và lãnh đạo bệnh viện: Cung cấp số liệu thực tế phục vụ việc xây dựng quy trình kỹ thuật điều dưỡng, hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (Tiêu chí C7 - Dinh dưỡng và tiết chế) và lập kế hoạch đào tạo liên tục cho nhân viên y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ điều dưỡng đạt yêu cầu chung về kiến thức chăm sóc dinh dưỡng trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát cho thấy có 8/14 điều dưỡng (chiếm 57,1%) đạt yêu cầu chung về kiến thức chăm sóc dinh dưỡng. Trong 5 nhóm kiến thức, nhóm hiểu biết về nhiệm vụ chăm sóc dinh dưỡng có tỷ lệ đạt cao nhất (71,4%), trong khi nhóm kiến thức về hỗ trợ dinh dưỡng có tỷ lệ đạt thấp nhất (50,0%).

2. Điều dưỡng tại Khoa Ung bướu nắm bắt và áp dụng các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng như thế nào?
Phần lớn điều dưỡng (13/14 người) biết phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua chỉ số BMI và xét nghiệm hóa sinh (8/14 người). Tuy nhiên, chỉ có 5 đến 6 điều dưỡng biết đến các bộ công cụ sàng lọc chuyên dụng như SGA và MNA; chỉ có 3/14 điều dưỡng nắm đúng và đầy đủ tất cả các phương pháp đánh giá dinh dưỡng.

3. Có sự khác biệt nào giữa việc thông báo tình trạng dinh dưỡng của bác sĩ và điều dưỡng đối với người bệnh?
Theo phản hồi từ 50 người bệnh ung thư hạ họng thanh quản, có 78% - 80% người bệnh được nhân viên y tế thông báo tình trạng dinh dưỡng. Trong đó, tỷ lệ người bệnh nhận được thông báo từ bác sĩ điều trị lên tới 90% - 94%, trong khi tỷ lệ nhận được thông báo trực tiếp từ điều dưỡng chỉ đạt từ 46% - 50%.

4. Thực trạng sử dụng tài liệu truyền thông khi tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh tại khoa diễn ra như thế nào?
Mặc dù có 86% người bệnh được điều dưỡng hướng dẫn và tư vấn chế độ ăn trong quá trình điều trị, nhưng có tới 84% người bệnh phản ánh họ không được phát bất kỳ tài liệu hay tờ rơi truyền thông nào; chỉ có 16% người bệnh nhận được tài liệu hướng dẫn dinh dưỡng bằng văn bản.

Kết luận

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của học viên Bùi Đức Hiến đã phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh ung thư hạ họng thanh quản tại Khoa Ung bướu - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2020. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù điều dưỡng có thái độ tích cực (78,5%) và thực hành kỹ thuật chuyên môn nuôi dưỡng qua ống thông rất tốt, song kiến thức chuyên sâu về dinh dưỡng (đạt 57,1%) và việc ứng dụng công cụ sàng lọc, tài liệu tư vấn vẫn còn nhiều khoảng trống. Các giải pháp chuẩn hóa quy trình, tăng cường đào tạo liên tục và phát triển tài liệu truyền thông được đề xuất là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho người bệnh ung thư vùng đầu cổ.