Chương I quy định về theo dõi, đánh giá TTDD của NB nội trú trong quá trình điều trị: NB vào viện phải được đo chiều cao, cân nặng và ghi vào hồ sơ bệnh án. Các chuyên khoa căn cứ vào nhu cầu chuyên môn có thể quy định thêm các chỉ số khác để đánh giá TTDD. Tổ chức hội chẩn giữa cán bộ khoa Dinh dưỡng, tiết chế với bác sỹ điều trị về chế độ ăn đối với những trường hợp bệnh đặc biệt có liên quan đến dinh dưỡng. Điều 17, chương III quy định trách nhiệm của Điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng.
Kiểm tra việc tổng hợp chế độ ăn bệnh lý hàng ngày theo chỉ địnhcủa bác sỹ điều trị và báo cho khoa Dinh dưỡng, tiết chế chuẩn bị chế độ ăn bệnh lý cho NB của khoa. Tổ chức tiếp nhận suất ăn và hỗ trợ ăn uống cho NB tại khoa. Kiểm tra việc thực hiện chế độ ăn bệnh lý của viên chức y tế và NB trong khoa. Điều 21, chương III quy định trách nhiệm của viên chức trong bệnh viện Tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về dinh dưỡng, tiết chế.
Thực hiện đúng các quy định về DD, tiết chế và an toàn thực phẩm[6]. Vấn đề chăm sóc dinh dưỡng cho NB cũng được đưa vào là một chỉ số trong Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện theo quyết định số 6858/QĐ-BYT ngày 18/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Dinh dưỡng và tiết chế. Hệ thống tổ chức thực hiện công tác dinh dưỡng và tiết chế được thiết lập đầy đủ.
Bảo đảm cơ sở vật chất thực hiện công tác dinh dưỡng và tiết chế. NB được đánh giá, theo dõi TTDD trong thời gian nằm viện. NB được hướng dẫn, tư vấn chế độ ăn phù hợp với bệnh lý. NB được cung cấp chế độ dinh dưỡng phù hợp với bệnh lý trong thời gian nằm viện[3].
Các yếu tố liên quan đến thực hành CSDD. Theo Quyết định số 1215/QĐ-BYT ngày 12 tháng 4 năm 2013 của Bộ Y tế về phê duyệt: “Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng giai đoạn từ nay đến năm 2020”[4]. Những tồn tại và thách thức đã ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng đó là: Thiếu nhân lực Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho CSNB còn nhiều hạn chế, thiếu các thiết bị, phương tiện phục vụ NB. Tình trạng NB quá tải và quá tải công việc làm cho điều dưỡng không có thời gian giao tiếp với NB, NB chờ đợi lâu mới được chăm sóc, phục vụ dẫn đến kém hài lòng.
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến công tác CSNB của ĐD và trong đó có công tác chăm sóc dinh dưỡng cho NB. Các yếu tố cá nhân của người ĐD. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CSNB có thể nói đến là độ tuổi của ĐD, giới tính, trình độ, hình thức lao động và thâm niên công tác. Các yếu tố về đặc điểm công việc.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm tính chất công việc là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng chăm sóc của ĐD. Một trong những khía cạnh quan trọng cũng ảnh hưởng đến chất lượng CSNB đó là sự hợp tác giữa bác sỹ và ĐD và giữa ĐD với nhau. Đó là sự phối hợp làm việc cùng nhau, chia sẻ trách nhiệm để giải quyết vấn đề và ra quyết định xây dựng và thực hiện kế hoạch chăm sóc. Yếu tố về đào tạo, tập huấn và công tác kiểm tra giá sát.
Sự tham gia đào tạo, tập huấn về chăm sóc dinh dưỡng có ảnh hưởng không chỉ đến kiến thức mà còn ảnh hưởng đến thực hành của ĐD. Hoạt động kiểm tra giám sát cũng là yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động CSNB. Kiến thức, thái độ về chăm sóc dinh dưỡng. 16 Qua tổng hợp các nghiên cứu về lĩnh vực thực hành điều dưỡng, chúng tôi nhận thấy rất nhiều yếu tố then chốt ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NB của ĐD.
Kiến thức, thái độ có thể nói là nền tảng vững chắc cho việc thực hành nhiệm vụ chăm sóc NB của ĐD. ĐD thiếu kiến thức về chăm sóc dinh dưỡng có thể là rào cản cho việc thực hành chăm sóc, tư vấn dinh dưỡng cho NB. 17 Chương 2 MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 2. Thông tin về bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.
Giới thiệu chung về bệnh viện Tai Mũi Họng TW. Bệnh viện Tai Mũi Họng TW có tiền thân là bệnh khoa Tai Mũi Họng trực thuộc Bộ Y tế được thành lập năm 1953 ở an toàn khu (ATK) Việt Bắc tại xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tháng 10 năm 1954, Bệnh khoa Tai Mũi Họng chuyến về Hà Nội tiếp quản khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Bạch Mai. Ngày 14/7/1969 Viện Tai Mũi Họng đã được thành lập theo quyết định số 111/CP ngày 14/7/1969 của Hội đồng Chính phủ, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Y Tế.
Năm 2003, để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới Bộ Y tế có Quyết định số 2217/BYT ngày 18/6/2003 về việc đổi tên Viện Tai Mũi Họng thành Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển bệnh viện đã trở thành địa chỉ tin cậy, uy tín để cung cấp các dịch vụ y tế cho nhân dân trong cả nước. Những thành tựu đạt được của đội ngũ cán bộ nhân viên bệnh viện là rất đáng trân trọng và tự hào. Bệnh viện Tai Mũi Họng hiện nay: Quy mô giường bệnh: năm 2020, bệnh viện được giao chỉ tiêu 320 giường trong đó có 270 giường nội trú, 50 giường ngoại trú.
Cơ cấu tổ chức: Bệnh viện có 28 khoa/phòng, 02 trung tâm; cụ thể là: 10 phòng chức năng (phòng Tổ chức cán bộ, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Chỉ đạo tuyến, phòng Tài chính kế toán, phòng Vật tư – thiết bị y tế, phòng Hành chính quản tri, phòng Điều dưỡng, phòng Quản lý Nghiên cứu khoa học và Đào tạo, phòng Quản lý chất lượng, phòng công tác xã hội). 12 khoa lâm sàng (khoa Khám bệnh, khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu, khoa Gây mê hồi sức, khoa Ung bướu, khoa Tai mũi họng trẻ em, khoa Tai, khoa 18 Tai thần kinh, khoa Mũi xoang, khoa Cấp cứu, khoa Họng thanh quản, khoa tạo hình thẩm mỹ, khoa Nội soi). 06 khoa cận lâm sàng (khoa Xét nghiệm tổng hợp, khoa Chẩn đoán hình ảnh, khoa Thính thanh học, khoa Dược, khoa Dinh dưỡng, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn). Nhân lực: Cán bộ công nhân viên gần 400 người trong đó có 02 giáo sư, 10 phó giáo sư, 12 tiến sỹ, 11 BSCKII, 37 ThS, nhiềuBSCKI, Bác sỹ nội trú, 12 ThS điều dưỡng, nhiều CN Đại học điều dưỡng…[9].
Giới thiệu khoa Ung bướu - trung tâm Trung tâm ung bướu và phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương. Khoa Ung bướu hiện tại có 27 Cán bộ nhân viên trong đó có 15 điều dưỡng, người bệnh điều trị nội trú tại khoa khoảng 45 - 60 người, điều trị ngoại trú (xạ trị) khoảng 50 - 60 người. Bệnh viện đã tổ chức chăm sóc người bệnh theo quy định tại Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/1/2011, Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, yêu cầu đặt ra là NB được đáp ứng đủ 14 nhu cầu cơ bản vì vậy vai trò của ĐD là rất quan trọng. Bệnh viện có khoa Dinh dưỡng và tiết chế có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ các suất ăn đảm bảo dinh dưỡng cho NB theo yêu cầu từ các khoa/trung tâm trong bệnh viện.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, số lượng NB đăng ký suất ăn tại các khoa lâm sàng chưa cao. Trong những năm gần đây, các hoạt động liên quan đến vấn đề chăm sóc dinh dưỡng cho NB tại bệnh viện đã được lãnh đạo chú trọng và quan tâm nhưng vẫn còn những tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc NB nói chung và chăm sóc về dinh dưỡng nói riêng. Qua những hoạt động kiểm tra giám sát của Phòng Điều dưỡng, của Điều dưỡng trưởng hàng tuần vẫn phát hiện có NB chưa được cân đo, tư vấn hướng dẫn chế độ ăn,. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành chuyên đề này tại khoa Ung bướu với mong muốn công tác CSNB, đặc biệt là công tác chăm sóc dinh dưỡng được hoàn thiện hơn.
Đối tượng đánh giá và phương pháp đánh giá. Trên cơ sở tìm hiểu, xem xét các đặc điểm lâm sàng, các nghiên cứu trong nước, ngoài nước về các vấn đề liên quan đến thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho NB nói chung và chăm sóc dinh dưỡng cho NB ung thư hạ họng thanh quản nói riêng. Chuyên đề đánh giá thực trạng công tác chăm sóc dinh cho người bệnh ung thư hạ họng thanh quản được xây dựng như sau: Đánh giá 14 ĐD (trừ ĐD trưởng khoa) đang công tác tại khoa Ung bướu. Đánh giá 50 NB được chẩn đoán UTHHTQ điều trị nội trú tại khoa.
Yếu tố đặc điểm cá nhân của ĐD. -Tuổi - Giới - Trình độ đào tạo - Hình thức lao động - Kiến thức chăm - Thâm niên công tác sóc dinh dưỡng - Thái độ chăm sóc dinh dưỡng Đặc điểm tính chất công việc. -Số NB trung bình một ngày ĐD phải chăm sóc - Khối lượng công việc - Phối hợp, giúp đỡ của đồng nghiệp Thực hành chăm sóc dinh dưỡng Đào tạo, tập huấn, ĐD kiểm tra giám sát. -Được đào tạo, tập huấn - Có sẵn tài liệu liên quan - Được kiểm tra, giám sát Sơ đồ: Khung đánh giá 20 2.
Kết quả đánh giá. Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc dinh dưỡng. Thông tin chung về ĐD Đa số ĐD tham gia vào nghiên cứu là nữ giới (11/14) cao gấp gần 4 lần số ĐD là Nam giới (3/14). Tuổi trung bình của ĐD là 33,5 tuổi, cao nhất là 48 tuổi và thấp nhất là 26 tuổi.
Hơn một nửa ĐD có trình độ học vấn trung học (8/14), đại học (4/14), sau đại học (2/14). Thâm niên công tác trung bình của ĐD là 9 năm, ĐD biên chế chiếm tỷ lệ nhiều hơn ĐD làm hợp đồng (2 và 12). Có hơn một nửa số ĐD phải chăm sóc trung bình từ 5 – 10 NB và có (2/14) ĐD phải chăm sóc trên 10 NB trong một ngày. Đánh giá của ĐD về mức độ quá tải công việc, có hơn một nửa số ĐD (8/14) cho rằng khối lượng công việc như vậy là bình thường, (5/14) ĐD cho rằng công việc của họ là quá tải và chỉ có (1/14) ĐD cho rằng không quá tải.
Hơn một nửa số ĐD (9/14) thường xuyên giúp đỡ những ĐD khác và nhận được sự giúp đỡ thường xuyên của ĐD khác.