Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới: 1. Đặc điểm chung của loài Tống quá sủ: Tên gọi và phân loại: Các nhà khoa học đều thống nhất sử dụng tên khoa học của loài Tống quá sủ là Alnus nepalensis D.Don, thuộc chi Alnus, họ Cáng lò (Betulaceae), bộ Cáng lò (Betuloideae). Ở mỗi nước, Tống quán sủ còn được gọi theo ngôn ngữ địa phương như: Ở Nepal là Utis, ở Myanma và Ấn Độ là Maibau… (Peter, 1990) [16].
Hình thái: Trịnh Vạn Quân và cộng sự (1978) [18] loài Tống quán sủ là cây gỗ nhỡ, đường kính tối đa có thể đạt 1m, cây trưởng thành cao khoảng 15 - 20 m, khi non vỏ có màu xanh nhạt, già có màu nâu nhạt, tốc độ sinh trưởng nhanh, thân thẳng, đẹp và phân cành cao. Trong tài liệu mô tả về hình thái loài Tống quán sủ thì mô tả của Peter E.Neil (1990) là đầy đủ và rõ hơn cả: Tống quán sủ là loài cây rụng lá hoặc nửa rụng lá, thân thẳng, có thể cao tới 30m, đường kính 60 cm; vỏ cây có mầu xanh tối hoặc xám, thường điểm thêm những mảng vàng nhạt và bị nứt; lá mọc xen kẽ, hình elip, dài 6 - 20 cm, rộng 5 - 10 cm, mép lá lượn song và có răng cưa, mặt trên lá xám mờ hoặc xanh tối, mặt dưới màu xám nhạt có những chấm nhỏ màu nâu vàng, thường bị côn trùng phá hại; cụm hoa đực hình bông đuôi sóc màu vàng, dài 10 - 25 cm, đính thành cụm ở đoạn cuối của cành nhưng ngắn hơn hoa đực. Quả hình nón, màu nâu tối; hạt màu nâu, chứa tinh dầu, có 2 cánh mỏng 2mm; quả chín từ tháng 11 - 3 năm sau và tùy thuộc từng vùng địa lý. - Phân bố sinh thái: Trịnh Vạn Quân và cộng sự (1978) [18] Tống quá sủ mọc rải rác trong các rừng khô, rừng thứ sinh, trên độ cao 800 - 2.400 m ở Ấn Độ, Myanma, Vân Nam, Tây Nam Tứ Xuyên, Đông Nam Tây Tạng, Tây Nam Quý Châu và Tây Quảng Tây - Trung Quốc.
Thích hợp nơi có nhiệt độ 4 trung bình năm từ 12,8 đến 18oC, tổng tích ôn tính từ 10oC trở lên khoảng 3.817oC, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất 2 - 3oC, nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất từ 21 - 22oC, nhiệt độ trung bình thích hợp 130C, lượng mưa trung bình năm 800mm, độ ẩm trên 70%. Cây ưa sáng, lúc non tái sinh rất mạnh, không kén đất, thích hợp với đất trung tính hoặc hơi chua và chịu hạn.Neil, (1990) [16], mô tả Tống quán sủ phân bố tự nhiên ở Pakistan từ độ cao 500 - 3.000m, ở Nêpan, Miền bắc Ấn Độ, Buhatan. Thượng Mỹ, Tây Nam Trung Quốc, Bangladesh, Myanma, Thái Lan và Việt Nam, nơi đất ẩm và thoáng với lượng mưa trung bình hàng năm từ 500 - 2.500mm và có thể sống được ở nơi có từ 4 - 8 tháng mùa khô, với thềm nhiệt độ từ 13 - 26oC, nền đất thích hợp là đất ẩm và thoát nước tốt là cây tiên phong sau canh tác nương rẫy bỏ hóa. Tống quá sủ là cây ưa sáng và không thích hợp trên nền đất khô.
Theo Charity [13], Tống quán sủ ưa đất ẩm, tăng trưởng trung bình thường trên đất cằn cỗi và có thể sống được trong các điều kiện bất lợi như: Đất sét nặng, đất dốc có độ liên kết thấp (Thường xói mòn và lở đất mạnh), sương mù, đất sỏi và tỏ ra kém chịu đựng với nơi có gió mạnh. Tăng trưởng tốt nhất trên đất sét và đất sét pha cát sỏi, đất dốc tụ. Thích hợp với lượng mưa trung bình năm từ 500 đến 2.500mm, nhiệt độ trung bình năm từ 19 đến 230C, độ pH đất 6 - 8%, rễ có khả năng cộng sinh với nấm để cố định Nitơ. Tống quá sủ là cây tiên phong ưa sáng hoàn toàn nhưng cũng có khả năng chịu bóng.
Giá trị sử dụng: Ở Vân Nam (Trung Quốc) người ta dùng vỏ Tống quá sủ chữa bệnh thủy thũng, lỵ, trực khuẩn, tiêu chảy, viêm phổi, phong thấp, nhức xương, gãy xương, đòn ngã tổn thương, lở sơn, có nơi còn dùng chữa viêm gan, chảy máu mũi [12]. 5 Ở Ấn Độ người ta dùng vỏ cây đập dập để đắp cho vết thương ở chân khi bị sưng do va đập cơ học; dùng quả cho vào nước, đun sôi để nguội bôi lên vết bỏng. Vỏ cây chứa 7% tanin, vỏ được sử dụng trong nhuộm và thuộc da, sử dụng để làm giàu thêm màu đỏ của thuốc nhuộm (Little 1983) (Dẫn theo Peter E. Ở Tây Java người ta trồng Tống quá sủ để bảo vệ đất, chống xói mòn và sạt lở ở những nơi có nguy cơ xói mòn và lở đất cao nhờ bộ rễ rất phát triển của loài cây này.
Tống quá sủ là cây cho gỗ lớn, gỗ mềm, nhẹ, trọng lượng 320 - 370 kg/m3 (NAS, 1980), 480 - 590 kg/m3 (Lamichhaney, 1984). Gỗ, củi Tống quá sủ có nhiệt lượng cháy khoảng 18.230 kJ/kg (Hawkins, 1982) đến 20.480 kJ/kg (Webb et al, 1984), bắt lửa và sinh nhiệt nhanh nên sử dụng làm chất đốt rất tốt (Dẫn theo Peter E. Gỗ mềm, dễ xẻ, bóc, lạng, ít cong vênh, được sử dụng trong xây dựng nhà, làm đồ gỗ, cầu, đóng các hộp đựng đồ (Dey và Ramaswami, 1960) (Dẫn theo Peter E. Nhìn chung, giá trị sử dụng chủ yếu của loài Tống quá sủ là Cung cấp gỗ.
nhiên liệu, cải tạo - bảo vệ đất, nhuộm vải và thuộc da. Kỹ thuật lâm sinh: Những nghiên cứu về các biện pháp tác động đối với Tống quá sủ để sử dụng như một đối tượng cây trồng kinh tế còn rất ít; các tài liệu công bố về kỹ thuật trồng loài cây này chủ yếu là tổng kết kinh nghiệm. Đề tài điểm lại một số công trình tiêu biểu: Peter E.Neil, 1990 [16]), hạt giống Tống quá sủ nếu được làm khô có thể bảo quản được ít nhất 1 năm trong hộp kín. hạt nảy mầm sau khi gieo hạt từ 1 đến 2 tuần và kéo dài trong 2 tuần kế tiếp.
Cây con được 4 - 5 tuần tuổi có thể nhỏ và cấy vào bầu. Cây con được 4 - 5 tháng tuổi, cao 25 - 35 cm có 6 thể đem trồng ở các đai độ cao 1.200m người ta thường gieo ươm 11 tháng trong vườn ươm mới đem trồng. Sâu bệnh hại chủ yếu đối với Tống quá sủ trong giai đoạn vườn ươm là kiến và sâu ăn lá. Hawkins (1982) và Webb et al (1984) (dẫn theo Peter E.Neil, 1990 [16]), ở Ấn độ người ta trồng Tống quá sủ để khai thác làm chất đốt.
Ở Mỹ, Tống quá sủ là cây trồng được lựa chọn số 1 cho canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc và trồng lại rừng trồng ở khu vực Taungya rất có hiệu quả (Troup 1921, NAS 1980) (dẫn theo Peter E. Ở Nepal và Ấn độ thường trồng kết hợp Tống quá sủ với ngô, lúa mạch, ớt và bí ngô trên đất dốc (Zeliang et al, 1985) (dẫn theo Peter E. Ở Nepal người ta trồng Tống quá sủ với cự ly 2,5 x 2,5m (Mật độ 1.600 cây/ha), sau 5 năm cho thu hoạch đạt hiệu quả cao nhất. Trịnh Vạn quân, Phó Quốc Lập và Thanh Tĩnh Dung (1978) [18], nguồn hạt Tống quá sủ phong phú, quả chín vào trung tuần tháng 12 thì thu hái được, hạt phát tán nhờ gió.
Tỷ lệ nảy mầm của hạt 40%; gieo ươm vụ xuân và vụ thu (Sau thu hạt 20 ngày là tốt nhất). Mật độ cây con tái sinh tự nhiên 30.000 cây/ha, giai đoạn 10 tuổi mật độ còn 1. Trồng rừng bằng cây con 1 tuổi, cự ly 1,5 x 2m hoặc 2 x 2m. Kết luận: Qua các tài liệu tham khảo trên cho thấy các công trình nghiên cứu về loài Tống quá sủ đa số tập trung vào mô tả các đặc điểm hình thái.
phân loại, khai thác sử dụng và tổng kết kinh nghiệm gây trồng. Chưa có tài liệu nào công bố về diện tích rừng trồng, kết quả nghiên cứu đặc điểm lâm phần và biện pháp kỹ thuật gây trồng loài cây này như một số loài cây trồng mang giá trị kinh tế. Đặc điểm chung của loài Tống quá sủ: Tên gọi và phân loại: Các nhà khoa học đều thống nhất sử dụng một danh pháp quốc tế cho loài Tống quá sủ là Alnus nepalensis D. Tên tiếng việt: Tống quá sủ được nhiều nhà thực vật sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau: Tống Quản Sui [6], Tống quá sủi [8], Tông qua sủ [1], Tống qua sủ [2].…Theo từ điển thực vật rừng Việt Nam [17], Alnus nepalensis D.Don có tên tiếng việt Tống quá sủ, người dân tộc La Chí gọi là Mìa Lu Y.
Về phân loại. theo Phạm Hoàng Hộ [6], Trần Hợp [8], Tống quá sủ thuộc chi Alnus, họ Cáng lò - Betulaceae, bộ cáng lò - Betuloideae. Hình thái: Theo Hoàng Hòe (1994) [18], cây Tống quá sủ cao 12 - 15 m, có thể cao 30m, đường kính ngang ngực 60 cm. Cành nhánh lúc non có lông màu hung vàng, thân hơi thẳng, vỏ nhẵn, tỉa cành cao, đoạn thân dưới cành tương đối dài.
Lá hình trứng hoặc trứng thuỗn, đầu có mũi lồi ngắn, đuôi hình nêm. dài 7 - 16 cm, rộng 3 - 6 cm, mép nguyên hoặc gợn sóng hoặc xẻ răng; gân bên có 12 - 16 đôi, trên gân và nách gân có lông. lá kèm sớm rụng. Hoa tự đực hình bông đuôi sóc dài và rủ xuống, xếp 3 hoa một trên 1 lá bắc xẻ 5 thùy.
thường xếp từ 5 đến 8 bông ở một nách lá và cứ 2 hoa một lại đính trên 4 lá bắc nhỏ và 1 lá bắc lớn. Quả hình trứng dẹt có một cánh màng được bao bọc bởi những lá bắc nhỏ sống dai và phát triển. Từ điển Lạc Việt [12], mô tả Tống quá sủ là cây gỗ cao 15 - 30 m. đường kính có thể đạt 60 cm.
Cành non có lông sát, cành già không lông, nâu. Lá có phiến bầu dục, dài 4 - 16 cm, rộng 2,5 - 10 cm mép nguyên hoặc hơi có răng, gân phụ 13 cặp, cuống 1 - 2 cm, lá kèm sớm rụng. Hoa đực hợp thành cụm hoa đuôi sóc dài 12 - 16 cm; 3 hoa ở nách một lá bắc, nhị 4, Hoa cái 8 thành bông ngắn 5 - 8 cái ở nách lá, bầu 2 ô, Cụm quả dạng chùy cứng, quả thuôn bầu dục dẹp có cánh mỏng, hạt 1. Phân bố và sinh thái: Theo các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (2000) [6] và Trần Văn Hợp (2002) [8], Tống quá sủ có phân bố tự nhiên ở Sơn La (Phong Thổ, Mường Lay), Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang (Xín Mần, Hoàng Su Phì, Quản Bạ, Đồng Văn).…ở độ cao từ 800 đến 2.400m so với mực nước biển.