Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng các nhóm cây có ích trên Thế giới 1.Vai trò của các nhóm cây có ích trong đời sống con người Từ khi lịch sử mới hình thành, con người đã biết cách khai thác thế giới tự nhiên để phục vụ đời sống của mình. Ban đầu chỉ là để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt là cái ăn và nơi cư trú. Nhưng dần dần qua quá trình khai thác thiên nhiên, quá trình thích nghi và chống chịu với thiên nhiên, đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển thì lúc này cũng xuất hiện nhu cầu về thuốc chữa bệnh và chất độc để săn bắt.
Con người liên tục tìm tòi các phương thuốc phòng và chữa bệnh để bảo vệ sức khoẻ, chống lại bệnh tật, chống lại sự tấn công của động vật…. Khi mà xã hội loài người phát triển hơn nữa thì các nhu cầu xã hội cũng hình thành và nhanh chóng trở thành nhu cầu không thể thiếu được. Lúc này họ sống không chỉ ăn mà phải ăn ngon, họ không còn để cơ thể mình một cách tự nhiên nữa mà phải có cái che thân, rồi thành mặc đẹp…. Vai trò của cây cỏ gần như bao trùm toàn bộ đời sống con người: lương thực - thực phẩm, nơi cư trú, thuốc, may mặc, săn bắt và cả các nghi lễ tôn giáo.
Cây cỏ không chỉ đáp ứng nhu cấu sinh hoạt của con người mà nó còn là nguồn nguyên liệu cho các mục đích khác. Từ việc sử dụng trực tiếp cây cỏ vào các mục đích cụ thể đến việc chế biến thành các sản phẩm khác, từ việc khai thác tự nhiên về dùng ngay đến dự trữ, bảo quản; đến chọn lọc, trồng và thuần hoá về trồng ở vườn nhà…. Tất cả các quá trình đó cứ xảy ra dân dần, từng bước, từng bước và người dân qua đó tích luỹ lại các kinh nghiệm thực tế. Kinh nghiệm của người dân có được qua các con đường: truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, học hỏi lẫn nhau giữa những người cùng một thế hệ và 4 kinh nghiệm tự tích luỹ được qua quá trình lao động.
Sự phát triển của loài người luôn được đi kèm bởi quá trình khai thác thế giới thực vật. Đến nay, bất cứ một cuộc thảo luận nào về sự phát triển của con người sẽ bị coi là không đầy đủ nếu không bàn đến vai trò của cây cỏ trong quá trình phát triển ấy. Các tài liệu sớm nhất ghi lại việc sử dụng thực vật của người phương Tây là vào khoảng 1770 năm trước công nguyên của người Neanderthal và vào khoảng 1550 năm trước Công nguyên của người Ai cập cổ đại. Người Ai Cập cổ tin tưởng vào giá trị của cây cỏ không chỉ cho người sống mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các vua Ai Cập cổ (Pharaohs) của họ đã chết.
Một số cây cỏ cũng đã được tìm thấy trong các kim tự tháp, được cho là có liên quan để ướp xác hoặc dùng trong lễ mai táng. Lịch sử nên y học Trung Quốc, Ấn Độ đều ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc cách đây khoảng 3000 - 5000 năm. Từ 3000 năm trước đây, Kinh Vê Đà, Ấn Độ đã nói về hương hoa để cúng bái. Trung Quốc là một trong những nước phát hiện và sử dụng nhiều dược thảo (trong đó có hoa) sớm nhất thế giới.
Từ thời Tam quốc (222-265 CN), danh y Hoa Đà đã sử dụng Đàn hương, Tử đinh huơng để chế hương nang (túi thơm), sử dụng tính phương hương (hương thơm) của chúng để chống lại bệnh lao phổi và lỵ. Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối để gối đầu (Hương chẩm) để điều trị đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Truyền thuyết nêu rằng: Dương Quý Phi, đời Đường Minh Hoàng, dùng hoa Bách hợp, hoa Hồng và các loại hoa thơm khác để lấy nước thơm, rửa chân, chữa chứng ra mồ hôi chân. Thời nhà Hán, “Thần Nông bản thảo kinh” (khoảng 100 - 180 CN) coi hoa Cúc là hoa kéo dài tuổi thọ, Cúc hoa cùng với trà có lợi cho khí huyết.
Nếu thường xuyên uống thì thân thể sẽ nhẹ nhàng để phòng tuổi gia đau yếu và kéo dài được tuổi thọ. 5 Ở châu Âu, vào những năm 60 cũng đã phát triển phương pháp dùng hương thơm chữa bệnh (Phương hương tễ liệu pháp - Aromathérapie) là một bộ phận của Hoa trị liệu pháp. Đầu của giai đoạn này, giới Y học Pháp vô tình phát hiện một hiện tượng đặc biệt: Các nữ công nhân trong xưởng nước hoa không ai bị bệnh phổi. Xưởng chế tạo đó sau này trở thành xưởng sản xuất hoá học về chất thơm từ thực vật và thực vật chế tạo nước hoa.
Ngoài tác dụng chữa bệnh, hoa còn là một nhân tố quan trọng trong văn hóa ẩm thực đồng thời đề bồi bổ sức khoẻ. Dùng thức ăn là hoa (Hoa thực) là một môn nghệ thuật với các cách chế biến khác nhau thành các món ăn vừa có màu sắc - mùi vị hấp dẫn, tăng hứng thú vị giác, thị giác và khứu giác. Y học hiện đại đã chứng minh màu sắc của hoa có tác dụng nhất định đối với điều tiết chức năng chuyển hoá trong cơ thể. Hoa Kim cúc có tác dụng giải độc,.
Màu sắc của thức ăn nói chung và của hoa nói riêng có tác dụng làm cho ngon miệng (thực dục) và còn có tác động đến tâm sinh lý: màu đỏ làm tăng hưng phấn thần kinh trong bữa ăn; màu vàng làm cho thích ăn, vui vẻ; trên bàn ăn có hoa màu trắng là cho người ăn có cảm giác thong thả, thư giãn; màu xanh lục làm cho hô hấp và mạch đập ổn định, hạ huyết áp một cách tương đối. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Trong đó ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc 5.000 loài, Vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1. Cũng theo tổ chức y tế thế giới thì mức độ sử dụng thuốc ngày càng cao.
Trung Quốc tiêu thụ hằng năm khoảng 700.000 tấn dược liệu trong tổng số khoảng 1.000 tấn trên thế giới. Sản phẩm thuốc Y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD năm 1986. Tổng giá trị thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu - Mỹ và Nhật Bản năm 1985 là trên 43 tỉ USD. Riêng ở 6 Nhật bản, lượng dược liệu nhập khẩu năm 1979 là 21.000 tấn, đến năm 1980 lên 22.640 tấn, tương đương 50 triệu USD.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu cây có ích của các dân tộc Từ xa xưa, khi mà nền nông nghiệp còn sơ khai, con người đã phát hiện thấy có sự khác biệt trong cách sử dụng cây cỏ ở các bộ lạc khác nhau và nhiều loài cây có ích thấy xuất hiện ở khu vực này mà không thấy có ở khu vực khác. Vì vậy, việc chiếm hữu các loài cây có ích từ các khu vực khác là một trong các mục tiêu hàng đầu trong các cuộc chiến tranh bộ tộc. Tri thức thực vật dân tộc và các giống cây có ích của các bộ tộc, bộ lạc ở các vùng địa lý khác nhau là tiền đề cho các cuộc chiến tranh chiếm hữu và nhập nội thực vật. Chiến dịch nhập nội thực vật đầu tiên với quy mô lớn đã xảy ra cách đây khoảng 5.
Vào thời kỳ này, nhiều loài cây có ích (Nelumbo sp.) đã được nhận thức và sử dụng rộng rãi. Thuật ngữ Thực vật dân tộc học (Ethnobotany) được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1895 trong bài giảng của John Harshberger ở Philadenphia. Harshberger đã định nghĩa Thực vật học dân tộc là nghiên cứu “Các cây được sử dụng bởi người nguyên thuỷ và các thổ dân (Plants used by primitive and aboriginal people)”. Như vậy, đến lúc này, các nhà thực vật dân tộc học mới chỉ xem xét tới ba nhóm cây có giá trị quan trọng nhất là: cây ăn được (làm lương thực - thực phẩm); cây làm nhà, lều trại và các cây có sợi.
Ngoài ra, đối tượng của các nghiên cứu được xác định là “bộ lạc”, “thổ dân” và “người nguyên thuỷ”. 7 Thuật ngữ Thực vật dân tộc được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu. Tuy nhiên, vào những năm đầu thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc điều tra, ghi chép về thành phần cây có ích và cách sử dụng của chúng. Từ năm 1916, các nhà nghiên cứu Thực vật dân tộc học đã nhận thức được sự cần thiết phải bổ sung lý thuyết và phương pháp luận cho lĩnh vực nghiên cứu mới này.
Khi đó, Thực vật dân tộc học không chỉ là sự thu thập nhiều hơn nữa các tri thức mà còn phải đánh giá giá trị khoa học của các phương pháp sử dụng trong điều tra, tính xác thực của kết quả. Năm 1941, Thực vật dân tộc học đã có một bước tiến mới về nhận thức và mục tiêu nghiên cứu. Lúc này, nó không chỉ bao gồm các nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng thực vật của các nhóm người nguyên thuỷ mà cả với sự toàn vẹn của các mối liên quan giữa người nguyên thuỷ và giới thực vật. Các nhà nghiên cứu đã mô tả sự phụ thuộc của đời sống vật chất, tinh thần của các cộng đồng dân cư vào giới thực vật địa phương, đã đưa ra các luận chứng khoa học về bảo tồn truyền thống, văn hoá của các cộng đồng trên cơ sở cùng tồn tại hài hoà với giới thực vật.
Năm 1978 là thời kỳ có sự thay đổi lớn nhất về nghiên cứu Thực vật dân tộc học khi Richard Ford đưa ra quan niệm” Sự tổng hợp mới của Thực vật dân tộc học”. Theo quan niệm này, các nhà thực vật dân tộc học cần phải có năng lực để nhận biết các loài cây có ý nghĩa gì làm cơ sở cho sự phân chia chúng bởi các nền văn hoá khác nhau.