Chương 1: GIỚI THIEU DE TÀI gồm: lý do hình thành dé tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của dé tài nghiên cứu Chương 2: CO SỞ LÝ THUYET gồm: Co sở lý thuyết và tong quan lý luận: trình bày cơ sở lý thuyết của dé tai và các lý thuyết dé xuất mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, nguồn thu thập dữ liệu, đo lường các biến và kiểm chứng mô hình có liên quan. Chương 3: MÔ HINH NGHIÊN CỨU gồm: Đề xây dựng trên phạm vi 06 quốc gia trong khu vực ASEAN. Những nước có vị trí địa lý gần với Việt Nam và có sự hợp tác liên kết mạnh mẽ và là cầu nối cũng như đòn bẩy cho Việt Nam vươn ra xa hon trong nên kinh tế toàn câu. Chương 4: KẾT QUA NGHIÊN CỨU gồm: Kết quả nghiên cứu, phân tích mô hình và kiểm định ý nghĩa của các biến số và kết quả Chương 5: KET LUẬN gồm: Nhận xét chung và rút ra kết luận của bai nghiên cứu, nhìn nhận các mặt hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LY THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Mục tiêu của chương 2 là trình bày các khái niệm lý thuyét cơ bản liên quan đên câu trúc von, các yêu tô tác động đên câu trúc vôn của công ty. Các lý thuyết nên tảng đã được nghiên cứu và tóm tat các bài nghiên cứu liên quan dén dé tài nghiên cứu trong và ngoài nước. CÂU TRÚC VON Câu trúc vốn là quan hệ tỷ trọng của từng loại vốn dai hạn bao gồm: no, vốn cô phan ưu đãi và vốn cô phan thường trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp (Nguyễn Minh Kiểu, 2013). Mặt khác, câu trúc von còn được hiệu theo một sô định nghĩa như: Cau trúc von cua công ty còn được định nghĩa là sự kêt hợp giữa nợ va von cô phân trong tông nguồn vốn dài hạn mà công ty có thé huy dong duoc dé tai trợ cho các dự án đầu tư.
Cấu trúc vốn là cách thức công ty tìm kiếm và sử dụng các nguồn tài chính thông qua việc lựa chọn hình thức vay vốn hay phát hành cổ phan ra thị trường. Đây là quyết định quan trọng với mọi công ty vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận và lợi ích của các nhà dau tu. CAC LÝ THUYET CÓ LIEN QUAN DEN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết đánh doi Lý thuyết đánh đổi trong mỗi doanh nghiệp được xem là quyết định về tỷ lệ nợ - vốn cô phan trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, là một sự đánh đổi giữa tam lá chắn thuế và chỉ phí tài chính của mỗi doanh nghiệp cụ thể.
Lý thuyết này được nghiên cứu bởi Miller và Modigliani (1958) sau đó được phát triển thêm bởi Miller (1966), Kraus và Litzenbergerv (1973), Jensen và Meckling (1976), Kim (1978). Ly thuyét đánh đổi của cấu trúc vốn thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu là khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các công ty có tài sản hữu hình an toản và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ mục tiêu cao. Các công ty có thu nhập chịu thuế thấp hơn hay ít sinh lời và tài sản vô hình nhiều nên hoạt động dựa vào vôn cô phân hơn là các khoản vay.
Lý thuyết đánh đối của lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp không giống như lý thuyết của Miller và Modigliani. Lý thuyết này không khuyến khích các doanh nghiệp nên vay càng nhiều nợ càng tốt mà đưa ra các dự báo hay ty lệ đánh đối hợp lý giữa việc lựa chọn vốn vay hay vốn cỗ phan. Việc xem xét tỷ lệ tài sản vô hình và tài sản hữu tình trong cầu trúc tải sản của doanh nghiệp để xem xét mức vay cũng như khả năng vay nợ cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hình thức tài trợ bang loại vốn nào của các công ty. Nhất là việc giải thích sự khác biệt của cau trúc vốn giữa nhiều ngành khác nhau.
Cụ thé, ngành xây dựng có tài sản hữu hình chiễm giá tri lớn, các khoản nợ vay được đảm bao băng nhiều loại tải sản có giá trị thì có thể vay và vay nhiều hơn các công ty ngành dịch vụ vì tài sản của các công ty ngành xây dựng là hữu hình và tương đối an toản. Vì loại tài sản hữu hình như nhà ở, nhà xưởng rất dễ dàng trong việc chuyên đổi công năng sử dụng như cho một don vị khác thuê dé sử dụng. Tài sản hữu hình càng cao và cảng an toàn, dễ chuyên đổi chức năng sử dụng thì công ty càng dễ vay vốn và được vay với tỷ lệ cao hơn. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các công ty có khả năng sinh lời cao nhất (ROE thuộc nhóm những công ty đầu ngành) thường sử dụng ít vốn vay và thường sử dụng nguồn vốn cô phan của công ty.
Phải chăng các công ty trên không cân sử dụng nguôn tiên từ bên ngoài hay tỷ lệ nợ mục tiêu của họ thâp. Ngược lại với các công ty lớn có khả năng sinh lời cao thì các công ty nhỏ hoặc có khả năng sinh lời thấp hơn thường phát hành nợ vì nguồn vốn nội bộ của công ty không đủ đáp ứng nhu cầu vốn dé hoạt động kinh doanh của các công ty. Lý thuyết trật tự phân hang được nghiên cứu bởi 2 tác giả là Myers và Majluf (1984) giải thích về lý do tại sao một số doanh nghiệp luôn ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ thay vì vốn vay bên ngoài. Trong lý thuyết trật tự phân hạng được trình bay, ton tại mối tương quan nghịch trong ngành, giữa các công ty có tỷ suất sinh lời cao với các công ty có tỷ suất sinh lời thấp hơn.
Và việc sử dung đòn bay tài chính của mỗi loại công ty này. Khi một ngành phát triển thì tất cả các công ty trong ngành cũng tăng trưởng va dau tư theo mức tăng trưởng của ngành. Nhờ đó, tỷ lệ đầu tư của các công ty đều tương tự nhau. Và khi các tỷ lệ chi trả cỗ tức đã cô định và không thể linh hoạt được thì các công ty có tỷ suất sinh lợi cao sẽ dé dang hơn trong việc chi trả cô tức bằng nguồn vốn nội bộ còn các công ty có tỷ suất sinh lời thấp hơn sẽ có ít cô tức được chi trả bằng nguồn vốn nội bộ hon va sẽ phải sử dụng thêm các nguôn vôn vay từ bên ngoài.
Nguyên nhân cua lý thuyết trật tự phân hang nay là do nguồn thông tin bất cân xứng giữa các chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Các chủ doanh nghiệp sẽ luôn năm được nguồn thông tin chính xác và rõ rang hơn về các dòng tiền, các dự án tiềm năng, rủi ro của doanh nghiệp và các giá trị tương lai của công ty hơn các nhà đầu tư bên ngoài. Thông tin bất cân xứng nay tác động đến lựa chọn giữa tai trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bằng nguồn vốn nội bộ và tài trợ băng nguồn vốn từ bên ngoài. Hay giữa việc lựa chọn phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phan.
Lựa chon phát hành chứng khoán vốn cổ phan chỉ được sử dụng khi công ty đã sử dụng hết khả năng vay nợ. Nhờ đó, trật tự phân hạng được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên giảm dan như sau: vốn nội bộ (từ lợi nhuận được giữ lại hàng năm để tái đầu tư cho năm tiếp theo với triển vọng tươi sáng trong tương lai), vay nợ và cuôi cùng là phát hành chứng khoán vôn cô phân mới. Lý thuyết trật tự phân hạng được tóm lược như sau (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2005): e Các công ty thích tai trợ bằng vốn nội bộ hơn. e Các công ty điều chỉnh tương ứng các ty lệ chi trả cô tức mục tiêu theo các cơ hội dau tư, trong khi tránh các thay đổi đột xuất trong cé tức.
e Các chính sách cô tức cứng nhắc, cộng với các dao động không thé dự đoán trong khả năng sinh lời và các cơ hội đầu tư, có nghĩa là dòng tiền phát sinh nội bộ đôi khí lớn hơn các chi tiêu vỗn va đôi khi nhỏ hon. e Néu can đên tài trợ từ bên ngoài, các doanh nghiệp sẽ ưu tiên với nợ, rồi đền trái phiêu chuyên đôi được và phát hành chứng khoán vôn cô phân là lựa chọn cuôi cùng. Dựa trên lý thuyết về trật tự phân hạng có thé giải lý co bản lý do tại sao các doanh nghiệp sẽ ưu tiên tai trợ các cơ hội đầu tư có tý suất sinh lời hap dẫn băng nguồn vốn nội bộ. đây là nguồn vốn được tài trợ từ chính lợi nhuận được gitt lại của công ty và nguôn vốn có rủi ro thấp nhất.
Sau đó là tài trợ bang nợ với rủi ro liên quan đến mức chỉ trả lãi và khả năng phá sản của công ty. Cuối cùng là phát hành chứng khoán vốn cổ phan dé tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Điều này cũng giải thích cho việc các công ty hoạt động càng hiệu quả ở năm trước, có nhiều lợi nhuận gitr lại sẽ có nhiều nguồn von dé đầu tu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong khi các công ty có mức lợi nhuận giữ lại thấp, vốn nội bộ để tài trợ các cơ hội đầu tư thấp sẽ phải mat nhiều thời gian để tiếp cận được nguồn vốn từ bên ngoài như thủ tục hỗ sơ vay vốn, thủ tục phát hành vốn c6 phan, chi phí phát hành vốn cô phan,.
điều nay sẽ làm ảnh hưởng đến cau trúc vốn của công ty. Lý thuyết này được cũng cô bang các nghiên cứu của Huang va Ritter (2009), Flannery và Rangan (2006) đã cho thay rang các công ty có chi phí nợ thấp hon do họ có khả năng phá sản thấp hơn và do đó dự kiến sẽ có tỷ lệ đòn bay cao hơn. Ngược lại, trật tự ranh giới cho thấy rằng các công ty thích nguồn vốn bên trong hon là tài trợ bên ngoài. Do đó, khả năng dẫn đến giảm ty lệ đòn bay do các cơ sở sử dụng thu nhập giữ lại để tài trợ các hoạt động của họ (Rajan & Zingales, 1995).
Lý thuyết bất cân xứng thông tin Lý thuyết trật tự phân hạng là hậu quả của việc bất cân xứng thông tin được nghiên cứu bởi Akerlof (1970).