Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và giải pháp 5 CHƢƠNG 2. Cấu trúc vốn 2. Khái niệm Cấu trúc vốn là một thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và phục vụ hoạt động kinh doanh. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cấu trúc vốn như sau: - Theo Stephen A.
Westerfield và Bradford D. Jordan (2003), cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa việc sử dụng vốn nợ và vốn chủ sở hữu (CSH) theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Theo San & Heng (2011) cấu trúc vốn là việc tài trợ cho tài sản của mình từ nhiều nguồn khác nhau, nhằm mang lại hiệu quả hoạt động và tăng trưởng cho doanh nghiệp. - Theo Lim (2012) cấu trúc vốn là cách mà doanh nghiệp tạo ra tiền để tài trợ cho hoạt động của mình và trong cách thức mà nó gán các tùy chọn tài chính mà doanh nghiệp chọn cho bảng cân đối kế toán.
Nó đại diện cho tổng vốn của một doanh nghiệp về nợ và vốn CSH kết hợp để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. - Theo Theo Umar (2012) Nợ và vốn CSH là các lựa chọn tài chính chính được sử dụng bởi tất cả các doanh nghiệp. Với mục đích điều hành một doanh nghiệp, mức độ nợ hoặc tùy chọn vốn CSH được sử dụng bởi doanh nghiệp để tài trợ hoạt động của nó đại diện cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp. - Theo Saleem (2013) cấu trúc vốn của một doanh nghiệp được định nghĩa là các phương án tài chính khác nhau của tài sản được sử dụng bởi doanh nghiệp.
Sự kết hợp giữa nợ và vốn CSH để tài trợ cho tài sản dài hạn của doanh nghiệp được nêu là cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nợ và vốn CSH là các thành phần cơ bản của kết cấu vốn của doanh nghiệp. 6 Có nhiều khái niệm về cấu trúc vốn doanh nghiệp, tuy nhiên có thể tóm lại, cấu trúc vốn của doanh nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ giữa nợ vay trong tổng nguồn vốn và vốn chủ của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn của doanh nghiệp thường biến động trong các chu kỳ kinh doanh và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến lợi ích của chủ sở hữu.
(Nguyễn Đình Luận, 2016) Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính để tài trợ cho các khoản đầu tư. Nguồn tài chính có thể phân loại thành hai nguồn: nguồn bên trong và nguồn bên ngoài. Nguồn bên trong bao gồm việc phát hành cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, dự trữ và lợi nhuận giữ lại. Nguồn bên ngoài gồm các khoản vay ngắn hạn, vay dài hạn và phát hành trái phiếu.
Doanh nghiệp phải xem xét rủi ro kinh doanh, chính sách thuế, linh hoạt tài chính và sở thích quản lý mạo hiểm hay thận trọng, trong khi những yếu tố này rất quan trọng trong việc xác định mục tiêu cơ cấu vốn, điều kiện hoạt động có thể khiến cơ cấu vốn thực tế khác với cơ cấu vốn tối ưu. Các chỉ tiêu đo lƣờng cấu trúc vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu phổ biến nhất được sử dụng để nghiên cứu cấu trúc vốn đó là chỉ tiêu tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ trên vốn CSH. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản được tài trợ bởi nợ, khi tỷ lệ này càng cao thì mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn. Chỉ tiêu này được tính như sau: Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản = Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản Tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản = Nợ dài hạn/Tổng tài sản Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản = Tổng nợ/Tổng tài sản Chỉ tiêu tỷ lệ nợ trên vốn CSH phản ánh tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp phản ánh năng lực tài chính, khả năng chủ động của doanh nghiệp về nguồn vốn kinh doanh trong quá trình hoạt động và đầu tư của doanh nghiệp, còn được gọi là đòn cân nợ, được tính như sau: Tỷ lệ tổng nợ trên tổng vốn CSH = Tổng nợ/Tổng vốn CSH 2.
Các lý thuyết cấu trúc vốn 2. Lý thuyết M&M về cấu trúc vốn 7 Đây là nghiên cứu khởi đầu cho các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện đại do Modiglani Miller đưa ra năm 1958. Với hai trường hợp được nghiên cứu là doanh nghiệp hoạt động trong môi trường không thuế và trong môi trường có thuế. M M đã đưa ra các kết luận quan trọng về cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Đó là trong trường hợp không thuế giá trị doanh nghiệp không vay nợ và có vay nợ là như nhau, hay nói một cách khác cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và không có cấu trúc vốn nào là tối ưu cả. Còn trong trường hợp có thuế thì giá trị doanh nghiệp có vay nợ cao hơn giá trị doanh nghiệp không vay nợ do được hưởng lợi ích từ lá chắn thuế. Do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình: V g = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ. Trong đó, D là tổng nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ.
Các kết luận trên được đưa ra dựa trên các giả định về thị trường hoàn hảo, không có chi phí kiệt quệ tài chính, không có chi phí giao dịch. Điều này dẫn đến để đánh giá các kết quả mà nghiên cứu thu được và việc áp dụng trong thực tiễn sẽ rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các đóng góp trong nghiên cứu của Modigliani và Miller đã gợi mở và góp phần giúp các nhà nghiên cứu khác trong việc xác định các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn và tác động của cơ cấu vốn lên giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường không hoàn hảo (Hồ Đình Bảo, 2014). Lý thuyết đánh đổi của cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi được phát triển bởi Kraus Litzenberger (1973) cho rằng nhà quản trị của doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ.
Lợi ích từ nợ đó là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay. Myers (1984) chỉ ra rằng Cấu trúc vốn mục tiêu không thể quan sát trực tiếp được mà chỉ có thể định lượng từ thực nghiệm, luật thuế thực tế phức tạp hơn nhiều so với giả định của lý thuyết, chi phí phá sản gây ra tổn thất thực tế chứ không chuyển từ người này sang người khác như trong lý thuyết. Sau nghiên cứu và những lập luận của Myers (1984), các nhà nghiên cứu đã chia lý thuyết đánh đổi 8 thành hai nhánh: Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cấu trúc vốn và lý thuyết đánh đổi động của cấu trúc vốn. Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cấu trúc vốn (Jensen và Meckling 1976, Jesen, 1986) cho rằng doanh nghiệp có thể dễ dàng và nhanh chóng đạt tới tỷ lệ nợ tối ưu để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và trong cả quá trình tồn tại của doanh nghiệp dựa trên tính toán về lợi ích nợ vay và chi phí phá sản, doanh nghiệp chỉ có một cấu trúc vốn tối ưu duy nhất.
Khi xem xét tác động của yếu tố lợi ích thuế phi nợ vay như khấu hao, tín dụng ưu đãi đầu tư,… DeAngelo và Masulis (1980) đã nhận thấy rằng doanh nghiệp có nhiều lợi ích từ thuế phi nợ vay sẽ giảm nợ vay trong cấu trúc vốn của mình vì lợi ích từ thuế phi nợ vay được xem là thay thế cho lợi ích thuế từ nợ vay. Đa số các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng nợ vay mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, và họ cũng đồng ý rằng lợi ích mang lại từ thuế không phải là vô tận hay có chi phí sử dụng nợ vay. Khi sử dụng nợ vay nhiều sẽ làm cho vốn CSH mang nhiều rủi ro hơn và làm tăng nguy cơ phá sản cũng như tăng chi phí phá sản. Chi phí phá sản gồm các chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí phá sản trực tiếp gồm có các chi phí pháp lý và các chi phí hành chính khi thanh lý và tái cấu trúc công ty. Warner (1977) nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí này chiếm trung bình 1% giá trị thị trường của doanh nghiệp thời điểm bảy năm trước khi phá sản và chiếm 2.5% giá trị thị trường của doanh nghiệp tại thời điểm ba năm trước khi phá sản. Chi phí phá sản gián tiếp bao gồm việc không thể hoạt động kinh doanh hay khuynh hướng đầu tư dưới mức tiềm năng. Theo Altman (1984), tổng chi phí phá sản trực tiếp và gián tiếp chiếm từ 11% đến 17% tổng giá trị doanh nghiệp tại thời điểm ba năm trước khi phá sản.
Lý thuyết đánh đổi tĩnh của cấu trúc vốn đưa ra giả thuyết rằng các nhân tố đại diện cho chi phí nợ vay có tác động ngược chiều đến mức nợ vay, còn các nhân tố đại diện cho lợi ích của nợ vay thì tác động cùng chiều. Đồng thời, việc lựa chọn cơ cấu vốn phụ thuộc vào mức tác động ròng của tất cả các nhân tố đó. Lý thuyết cũng kết luận rằng tồn tại cấu trúc vốn tối ưu mà tại đó doanh nghiệp tối đa hóa giá 9 trị của mình thông qua việc cân bằng giữa giá trị hiện tại của chi phí phá sản và giá trị hiện tại của lợi ích thuế nợ vay và phi nợ vay. Myers (1984) đã kết luận về lý thuyết này như sau: - Chi phí về khó khăn tài chính tăng sẽ làm giảm tỷ lệ nợ mục tiêu.
- Lợi ích thuế phi nợ vay tăng thì tỷ lệ nợ mục tiêu sẽ giảm. - Thuế thu nhập cá nhân đối với vốn chủ sở hữu tăng thì tỷ lệ nợ mục tiêu sẽ tăng. - Tại cơ cấu vốn mục tiêu, thuế suất biên với chủ nợ tăng sẽ làm giảm tỷ lệ nợ mục tiêu. - Nợ vay và rủi ro tỷ lệ nghịch với nhau.