phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 3: Thực trạng tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 4: Mô hình kiểm đinh tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 5: Các khuyến nghị về cấu trúc sở hữu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỂ CẤU TRÚC SỞ HỮU TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG Cấu trúc sở hữu trong mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của ngân hàng từ lâu đã nhận đƣợc sự quan tâm từ phía các cơ quan quản lý cũng nhƣ các nhà nghiên cứu. Xét về mặt lịch sử, vấn đề này lần đầu tiên đƣợc đề cập trong cuốn sách “Công ty hiện đại và Tài sản cá nhân” của Adolph Berle và Gardiner Means [43] vào năm 1932. Theo lập luận của Berle và Means, sự phân tán trong sở hữu cổ phần tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoạt động của công ty.
Sự mở rộng quyền sở hữu này có thể cho phép các nhà quản lý theo đuổi lợi ích riêng của họ và không phù hợp với lợi ích các cổ đông, do vậy, việc vận hành công ty bị ảnh hƣởng bởi sự phân biệt quyền sở hữu và cấu trúc kiểm soát. Từ đó, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này đã đƣợc xây dựng trên cơ sở các quan sát đa dạng về những loại hình công ty, khu vực địa lý cũng nhƣ loại hình sở hữu khác nhau. Trong nghiên cứu về các ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu, Demsetz (1983)[57] cho rằng cấu trúc sở hữu cần đƣợc xem xét là một biến nội sinh và nó phản ánh các tác động của thị trƣờng tài chính đối với cổ phiếu của doanh nghiệp. Khi chủ sở hữu của các công ty cổ phần quyết định bán các cổ phiếu đang nắm giữ hay các cổ đông mua thêm cổ phiếu phát hành thêm của các công ty đại chúng, thực tế là họ đang làm thay đổi cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp (quyền sở hữu của doanh nghiệp đƣợc phân tán hay lan tỏa giữa các chủ sở hữu hơn nữa).
Các quyết định nhƣ mua hay bán cổ phiếu của doanh nghiệp phản ánh mong muốn của các chủ sở hữu hiên tại và chủ sở hữu tiềm năng đồi với doanh nghiệp. Trong trƣờng hợp doanh nghiệp bị thâu tóm, chủ sở hữu cũ không có ƣu thế hơn chủ sở hữu mới và những chủ sở hữu mới sau khi thâu tóm có ảnh hƣởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp và chiếm ƣu thế trong cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, cấu trúc sở hữu bất kể là theo hình thức tập trung hay phân tán đều phản ánh mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông trong doanh nghiệp. 8 Trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi nhà quản trị, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu, Jensen và Meckling (1976) [75] đã đặt giả thiết tỷ lệ sở hữu của ban quản lý doanh nghiệp là yếu tố ngoại sinh và sử dụng phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất (OLS) để thực hiên nghiên cứu.
Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp những chứng cứ về việc tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên ban quản lý càng lớn thì các quyết định của nhà quản lý càng có xu hƣớng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng nhƣ bám sát theo mục tiêu cuối cùng của quản trị doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu. Tuy nhiên, nghiên cứu thực chứng của Cho (1998) [48] về cấu trúc sở hữu, đầu tƣ và giá trị doanh nghiệp cho thấy tồn tại mối quan hệ ngƣợc giữa mức độ sở hữu của Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tác giả đã tập trung vào giả thuyết rằng việc sở hữu nội bộ ảnh hƣởng đến đầu tƣ, từ đó sẽ làm ảnh hƣởng đến hoạt động của doanh nghiệp (đo lƣờng bởi Tobin’s Q). Sử dụng các hệ phƣơng trình hồi quy OLS chéo, các tác giả đã tìm ra ảnh hƣởng tích cực của đầu tƣ tới giá trị doanh nghiệp, đồng thời giá trị doanh nghiệp lại ảnh hƣởng lên cấu trúc sở hữu nội bộ.
Các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiêu quả hoạt động của doanh nghiệp ở Mỹ thu đƣợc những kết quả khác nhau. Đề xuất về tính chất nội sinh của cấu trúc sở hữu trong đo lƣờng tác động tới hiệu quả hoạt động, Demsetz và Lehn (1985) [58] đã kiểm định thực nghiệm với 511 doanh nghiệp lớn của Mỹ, với sự quan sát các hình thức trong cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp nhƣ: sở hữu tổ chức, sở hữu cá nhân, sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất. Hai tác giả đã sử dụng các mô hình hồi quy tuyến tính mà trong đó cấu trúc sở hữu đƣợc xem là biến nội sinh. Ngày nay, cấu trúc sở hữu đƣợc coi là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của công ty đã đƣợc công nhận rộng rãi trong các tài liệu tài chính - kinh tế (Cornett và cộng sự, 2009 [54]).
Với vai trò là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, ngân hàng là một đối tƣợng nghiên cứu phổ biến để kiểm tra mối quan hệ này. Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng đã đƣợc nghiên cứu rộng rãi trên thế giới, bao gồm cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển và Việt Nam với những kết quả khác nhau. Sau đây, luận án sẽ hệ thống lại những nghiên cứu nổi bật về chủ đề này lần lƣợt tại các quốc gia phát triển, quốc gia đang phát triển với nền kinh tế chuyển đổi và Việt Nam. Nghiên cứu tại các quốc gia phát triển Sự gia tăng toàn cầu hóa trong ngành tài chính từ những năm 1990 trở lại đây đã dẫn tới những thay đổi đáng kể trong các cấu trúc quyền sở hữu ngân hàng trên toàn thế giới.
Ở cả các nƣớc phát triển và đang phát triển, tỷ trọng các ngân hàng do nƣớc ngoài sở hữu tăng lên, trong khi đó đồng thời quyền sở hữu nhà nƣớc tại các ngân hàng có xƣ hƣớng giảm. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã làm trầm trọng thêm cuộc tranh luận về cơ cấu sở hữu của ngành ngân hàng và những hậu quả đối với các trung gian tài chính. Một số đã chỉ ra sự hiện diện của các ngân hàng nƣớc ngoài ở các nƣớc đang phát triển nhƣ là một cơ chế chủ yếu để dẫn truyền cuộc khủng hoảng 2008-2009 từ các nƣớc tiên tiến sang các nƣớc đang phát triển (ví dụ nhƣ báo cáo của IMF năm 2009). Đồng thời, các nƣớc đang phát triển nhƣ Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ, nơi các ngân hàng do chính phủ quản lý có tầm quan trọng lớn thì hệ thống đã hồi phục nhanh chóng từ cuộc khủng hoảng, tạo ra sự quan tâm đến vai trò các ngân hàng này có thể đảm trách trong giai đoạn khủng hoảng tài chính.
Lý do và ảnh hƣởng của chính phủ và sở hữu ngân hàng nƣớc ngoài là một chủ đề gây tranh cãi. Có hai quan điểm ôn hòa của các ngân hàng nhà nƣớc. Quan điểm “xã hội” nhấn mạnh rằng bằng cách giúp vƣợt qua những thất bại của thị trƣờng và tận dụng các nguồn lực, các ngân hàng nhà nƣớc có thể thúc đẩy các khoản đầu tƣ nâng cao phúc lợi xã hội (Stiglitz, 1993 [109]). Quan điểm “phát triển” có liên quan nhấn mạnh rằng các ngân hàng nhà nƣớc có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực cho các ngành công nghiệp chiến lƣợc mà khu vực tƣ nhân không thể hoặc không muốn tài trợ, do đó giúp đẩy nhanh sự phát triển kinh tế (Gerschenkron, 1962 [65]).
Ngƣợc lại, có hai quan điểm nhấn mạnh rằng sở hữu của ngân hàng chính phủ có thể dẫn đến phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Theo quan điểm của ngƣời đại diện, ngay cả khi chính phủ có những mục đích tốt nhất, xung đột lợi ích giữa chính phủ và các quan chức đƣợc chỉ định để quản lý các ngân hàng do chính phủ quản lý có thể làm tăng thiếu hiệu quả hoạt động và phân bổ sai (Hart và cộng sự, 1997)[68]. Quan điểm “chính trị” cho thấy các ngân hàng nhà nƣớc là cơ chế để các chính trị gia theo đuổi các mục tiêu của họ (ví dụ nhƣ tái tranh cử, lợi nhuận cá nhân .) dẫn đến phân bổ sai tài nguyên (ví dụ nhƣ tài trợ cho ngƣời ủng hộ hoặc của những ngƣời có lợi ích nhóm) và hiệu quả kinh tế không cao (Shleifer và Vishny, 1988 [95]). 10 Liên quan đến quan điểm này, các mô hình kinh tế chính trị cho thấy các chính trị gia có xu hƣớng ủng hộ sở hữu ngân hàng của chính phủ khi trách nhiệm giải trình và sự độc lập của tƣ pháp là thấp, vì các chính trị gia có thể khai thác những lợi ích mà không phải gánh chịu hậu quả cá nhân (Perotti và Vorage, 2010)[102].
Các lập luận chính ủng hộ chủ sở hữu ngân hàng nƣớc ngoài là các ngân hàng nƣớc ngoài có thể mang lại vốn, kỹ thuật và đổi mới sản phẩm (đặc biệt đối với các nƣớc đang phát triển), tăng cƣờng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của ngành ngân hàng (Levine, 1997 [82]). Mặt khác, những ý kiến lo ngại phần lớn tập trung vào việc các ngân hàng nƣớc ngoài có thể gây bất ổn cho ngành ngân hàng địa phƣơng bằng cách truyền những cú sốc từ bên ngoài và đe dọa sự sống còn của các ngân hàng trong nƣớc bằng cách tăng cạnh tranh (Stiglitz, 1993)[109]. Cuối cùng, các ngân hàng có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có thể làm giảm khả năng tiếp cận tài chính cho phần lớn các doanh nghiệp trong nƣớc và ngƣời tiêu dùng nếu họ chỉ tập trung vào phân khúc ít rủi ro và minh bạch nhất của thị trƣờng (Detragiache và cộng sự, 2008 [55]).