CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHU VỰC ĐÔNG BẮC BỂ SÔNG HỒNG, LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Giới thiệu chung về bể trầm tích Sông Hồng và khu vực nghiên cứu Bể trầm tích Cenozoi Sông Hồng là một trong những bể trầm tích có tiềm năng dầu khí lớn nhất trên thềm lục địa Việt Nam. Quá trình hình thành và phát triển của bể Sông Hồng liên quan chặt chẽ với hoạt động của đới xiết trượt Sông Hồng và quá trình tách giãn Biển Đông. Sơ đồ vị trí các bể Cenozoi ở thềm lục địa Việt Nam và kế cận 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm cấu trúc, kiến tạo Đông Bắc bể Sông Hồng Về vị trí địa lý: Bể Sông Hồng nằm trong khoảng 10503 ’- 11003 ’ inh độ Đông, 1403 ’- 210 ’ vĩ độ Bắc (hình 1).
Điểm khởi đầu của bể Sông Hồng là phía Nam thành phố Việt Trì, mở rộng dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đạt chiều rộng lớn nhất khoảng 210km tại khu vực vĩ tuyến 180N sau đó thu hẹp dần cho tới khu vực ngoài hơi Quãng Ngãi thì biến thành một địa hào tiếp tục kéo dài về phía nam giữa đới nâng Tri Tôn ở phía Đông và vùng thềm Đà Nẵng thuộc các tỉnh phía Nam Trung Bộ. Phần phát triển trên đất liền là miền võng Hà Nội, phía đông bắc giáp với bể Tây Lôi Châu và phía Đông giáp với bể Nam Hải Nam và phía Nam giáp với bể Phú Khánh. Bể Sông Hồng có một phần nhỏ diện tích nằm trên đất liền thuộc đồng bằng Sông Hồng, còn phần lớn diện tích thuộc vùng biển vịnh Bắc Bộ và biển miền Trung thuộc các tỉnh từ Quảng Ninh đến Bình Định. Về mặt hình thái: bể Sông Hồng là một trũng có hình “Oval” đối xứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, được khống chế ở hai cánh bởi các đứt gãy lớn là Sông Lô ở phía Đông Bắc và Sông Chảy ở phía Tây Nam.
Về mặt khí hậu: đây là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa bao gồm: - Nhiệt độ: Về mùa hè nhiệt độ thay đổi trong khoảng 26 – 360C. Độ ẩm tương đối là 7 % đến 80%. Về mùa đông nhiệt độ thay đổi từ 10 – 230C thấp nhất là 6 - 80C. - Gió: trong vùng có 2 mùa gió chính: + Gió mùa đông: chủ yếu theo hướng Bắc – Đông Bắc tốc độ trung bình là 4 - 5m/s.
+ Gió mùa hè: theo hướng Nam – Đông Nam tốc độ trung bình là 2 - 3m/s. Ngoài ra mỗi năm đều có khoảng 6 - 7 cơn bão gây ra thiệt hại về vật chất cho nhân dân. Hầu hết các cơn bão đều xảy ra vào tháng 7, 8, 9. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm cấu trúc, kiến tạo Đông Bắc bể Sông Hồng - Mưa: kéo dài từ tháng 4 - 9.
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là 2 - 25 mm, mưa lớn nhầt vào tháng 7 và tháng 10. - Sương mù: thường xuất hiện vào mùa đông từ 3 - 5 ngày trong 1 tháng, nhiều nhất vào tháng 3. Về đặc điểm kinh tế nhân văn: Khu vực dân cư tập trung là đồng bằng Sông Hồng. Việc dân cư quá tập trung ở đồng bằng làm cho mật độ dân số trung bình đã lên tới 118 người/ km2 (1999).
Mật độ này cao gấp 5 lần mật độ trung bình của toàn quốc; gấp gần 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long; gấp 10 lần so với khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ; gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên. Những nơi dân cư tập trung đông nhất là Hà Nội (2833 người /km2), Thái Bình (1183 người/km2), Hải Phòng (1113 người/km2), Hưng Yên (12 4 người/km2 – 1999). Sư phân bố dân cư quá đông ở đồng bằng Sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố. Nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếu đòi hỏi phải có nhiều lao động.
Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị há dày đặc. Ngoài ra, đồng bằng Sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người. Ở đồng bằng sông Hồng, dân số gia tăng vẫn còn nhanh. Vì vậy, tốc độ tăng dân số chưa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội.
Điều này gây hó hăn cho việc phát triển kinh tế xã hội của đồng bằng. Nền kinh tế ở đồng bằng Sông Hồng tuy tương đối phát triển, nhưng đang phải chịu áp lực rất lớn của dân số. Vào thời kỳ 1979 – 1989, nhịp độ tăng trưởng trung bình năm của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đạt khoảng 4 – 5%, trong hi đó tỉ lệ tăng dân số hằng năm vẫn dao động ở mức trên 2%. Việt Nam hiện nay đang là thị trường rất hấp dẫn cho các nước phát triển vào đầu tư đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí, bên cạnh đó nền kinh tế các nước ASEAN trong những năm gần đây tăng trưởng khá nhanh.
Tiếp giáp vùng nghiên cứu là Trung Quốc có nền kinh tế phát triển, công 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm cấu trúc, kiến tạo Đông Bắc bể Sông Hồng nghiệp dầu khí tiên tiến và có nhu cầu lớn về tiêu thụ dầu khí. Đó là các nhân tố quan trọng thúc đẩy các hoạt động thăm dò và hai thác dầu khí trong vùng. Bể Sông Hồng là bể có lớp phủ trầm tích Cenozoi dày trên 15 km (ở vùng trung tâm), bao gồm các thành tạo từ Eocen(?), Oligocen, Miocen và Pliocen – Đệ Tứ, chúng phủ bất chỉnh hợp lên các thành tạo trước Cenozoi. Trừ phần đất liền (miền võng Hà Nội) thì phần còn lại đều nằm ở vùng biển có độ sâu nước hông vượt quá 100m, một điều kiện rất thuận lợi cho công tác tìm kiếm, thăm dò và hai thác dầu khí.
Dọc rìa phía Tây bể trồi lộ các đá móng Paleozoi- Mesozoi. Phía Đông Bắc tiếp giáp với bể Tây Lôi Châu, thường được gọi là bể Beibuwan, còn phía Đông lộ móng Paleozoi- Mesozoi ở đảo Hải Nam – Trung Quốc, Đông Nam là bể Nam Hải Nam và nhóm bể Hoàng Sa của Việt Nam, ranh giới phía Nam tiếp giáp với bể trầm tích nước sâu Phú Khánh. Trong tổng số diện tích cả bể khoảng 220.000 km2, bể Sông Hồng về phía Việt Nam chiếm khoảng 126.000 km2, trong đó phần đất liền miền võng Hà Nội (MVHN) và vùng biển nông ven bờ chiếm khoảng hơn 4.000 km2, còn lại là diện tích ngoài hơi vịnh Bắc Bộ và một phần ở biển miền Trung Việt Nam. Phần Đông Bắc bể Sông Hồng là khu vực có hoạt động địa chất hết sức phức tạp.
Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu hí đã được tiến hành trước đây chủ yếu đánh giá tiềm năng dầu khí của các tầng chứa lục nguyên có tuổi Miocen, Oligocen – Eocen và gần đây đối tượng móng trước Cenozoi cũng được chú ý và đã có các hoạt động khoan tìm kiếm thăm dò. Tuy nhiên, hối lượng công việc còn hạn chế và kết quả khoan tìm kiếm thăm dò dầu hí chưa cao. Năm 2 8, nhà thầu PCVL điều hành lô hợp đồng 102 – 1 6, đã hoan giếng khoan Hàm Rồng - 1X, kết quả thử vỉa trong đối tượng móng đá vôi nứt nẻ - cactơ cho dòng công nghiệp có lưu lượng lớn (72 9 thùng/ ngày đêm) tại cấu tạo Hàm Rồng. Phát hiện này đã làm thay đổi các quan niệm tìm kiếm thăm dò dầu khí khu vực phía 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm cấu trúc, kiến tạo Đông Bắc bể Sông Hồng Bắc bể Sông Hồng và Phụ bể Bạch Long Vĩ.
Kết quả nghiên cứu khu vực Hàm Rồng và phụ bể Bạch Long Vĩ cho thấy có nhiều yếu tố mới và hệ thống dầu khí khu vực này có các đặc điểm há đặc biệt [3]. Vị trí bể Sông Hồng và khu vực nghiên cứu trong phông chung kiến tạo Đông Nam Á Trong khu vực Đông Nam Á có ba yếu tố kiến tạo chính liên quan đến cơ chế tạo bể trầm tích [8]: Đới hút chìm phát triển từ Miến Điện qua vòng cung đảo Indonesia. Sự va chạm của mảng Ấn Độ và mảng Âu – Á. Sự hình thành và giãn đáy Biển Đông.
Dọc theo vòng cung đảo Indonesia, sự hình thành các bể trầm tích chủ yếu theo cơ chế sau cung (back- arc), đó là do tốc độ hút chìm thay đổi lúc mạnh, lúc yếu theo thời gian (roll- back velocity), so với các bể khác ở Đông Nam Á, các bể sau cung này hình thành tương đối sớm, chủ yếu trong Eocen, trước khi sự húc chồi do va chạm giữa mảng Ấn Độ và mang Âu- Á có tác dụng mạnh, gây xô dịch các vi mảng. Sự va chạm của mảng Ấn Độ vào mảng Âu- Á xảy ra đồng thời với sự xoay và dịch chuyển lên phía Bắc của vòng cung Philipin tạo không gian cho các chuyển động thúc trồi của các địa khối dọc theo các đứt gãy lớn trong khu vực do sự chèn ép của mảng Ấn Độ. Do đó các địa khối có xu thể trượt từ phía Ấn Độ về phía Nam và Đông Nam. Nằm trong khung cảnh đó, địa khối Đông Dương cũng được cho là đã bị thúc trồi mạnh từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, dọc theo hệ thống đứt gãy Sông Hồng và Three Pagodas và Maeping.
Do mảng Ấn Độ húc vào mảng Âu- Á từ Eocen đến ngày nay và ngày càng chuyển động về hướng Bắc, nên các chuyển động thúc trồi của các địa khối này cũng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm cấu trúc, kiến tạo Đông Bắc bể Sông Hồng có sự thay đổi hướng theo thời gian. Các địa khối nằm ở phía Nam đứt gãy Three Pagodas bị thúc trồi sớm hơn (Eocen, đầu Oligocen) và bị đẩy ngược về phía Nam, tạo ra các bể trầm tích có phương đứt gãy Bắc - Nam. Tiếp theo là các địa khối nằm giữa hệ thống đứt gãy Three Pagodas và Sông Hồng bị thúc trồi trong Oligocen đến Miocen sớm. Phân phía Nam bị đẩy sớm hơn vào đầu hoặc giữa Oligocen, phần phía Bắc bị đẩy muộn hơn và ết thúc vào cuối Miocen sớm.
Cường độ va chạm và khoảng cách bị đẩy thúc trồi của phần phía Nam có lẽ mạnh hơn, xa hơn so với phần phía Bắc, tạo ra hình chữ S của bờ biển Việt Nam hiện nay (hình 3. Điều này cũng lý giải giai đoạn syn- rift ở phía Nam bể Sông Hồng chỉ kết thúc vào cuối Miocen sớm.