CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Câu bị động 1.1 Câu bị động trong tiếng Việt 1. Sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt Các quan điểm về câu bị động trong tiếng Việt xoay quanh hai quan điểm chính là thừa nhận hoặc phủ định sự tồn tại của câu bị động. Dựa vào lịch sử nghiên cứu câu bị động tiếng Việt, các tác giả thường đưa ra những ý kiến sau đây để đánh giá có câu bị động hay không: Thứ nhất, vì tiếng Việt không có phạm trù hình thái học nên không có cấu trúc bị động.
Về ý kiến này, nhiều tác giả đã đề cập rằng không nên đồng nhất dạng bị động với tư cách là phạm trù hình thái học với cấu trúc bị động. Các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Thuận đã có đề cập đến ý kiến này. Theo Nguyễn Kim Thản (1977) [tr. 214-215] “phạm trù dạng không tồn tại ở các động từ tiếng Việt.
Ý nghĩa bị động của câu nói được biểu thị bằng những phương tiện từ vựng học hay bằng những cấu trúc cú pháp”. Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận (2000) cho rằng dạng bị động trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định. Theo Nguyễn Hồng Cổn (2004), các câu bị động trong các ngôn ngữ khác nhau cho thấy dạng của động từ chỉ là một trong nhiều phương thức mã hoá về mặt hình thái- cú pháp, các bình diện ngữ nghĩa- chức năng khác nhau của phạm trù bị động. Nếu tuyệt đối hoá hình thái học thì phạm trù bị động trong tiếng Anh hay tiếng Pháp cũng không đáp ứng đủ tiêu chí.
Vì vậy, tiếng Việt không có phạm trù hình thái học nên không có cấu trúc bị động không có nghĩa tiếng Việt không có cấu trúc bị động hay câu bị động xét trên phương diện cú pháp. Thứ hai, vì tiếng Việt là một ngôn ngữ “thiên chủ đề” nên không có cấu trúc bị động, hoặc bị động không phải là hiện tượng cú pháp cần xem xét. Về ý kiến này, Ch. Thompson (1976) đưa ra luận điểm về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn ngữ “thiên chủ đề” và “thiên chủ ngữ”, cho rằng cấu trúc bị động phổ biết trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, còn ở những ngôn ngữ thiên chủ đề thì bị động thường ít gặp hoặc vắng mặt.
Tuy nhiên, các tác giả này không hoàn toàn loại trừ sự có mặt của hiện tượng bị động trong các ngôn ngữ thiên chủ đề mà chỉ cho rằng nó không phải là phạm trù bị động điển hình 10 như trong các ngôn ngữ Ấn Âu. Thứ ba, được và bị không phải là hư từ mà là động từ tình thái nên không thể là dấu hiệu đánh dấu câu bị động. Về ý kiến này, nhiều tác giả như đã công nhận rằng bị và được không phải là hư từ có chức năng đánh dấu quan hệ bị động mà là có vai trò ngữ pháp như là một động từ tình thái, thậm chí là một động từ thực làm trung tâm của bị ngữ. Bị và được dù có đóng vai trò là trung tâm ngữ pháp của vị ngữ thì cũng không có nghĩa các từ này không thể hành chức như một dấu hiệu đánh dấu quan hệ bị động.
Xét trong tiếng Anh có trợ động từ trong vị ngữ bị động to be, tiếng Pháp có etre. Xét về mặt ý nghĩa, to be không có giá trị trọng việc hình thành nghĩa trạng thái bị động vốn do hình thái của động từ. Xét về phương diện ngữ pháp, trợ động từ to be không có gì khác biệt với một vị từ thực làm trung tâm vị ngữ. Mặc dù vậy to be vẫn hoạt động như một chỉ tố bị động trong tiếng Anh.
Từ những luận điểm trên, có thể nói đến sự có mặt của câu bị động trong tiếng Việt. Nhận diện câu bị động trong tiếng Việt Cũng giống như những ngôn ngữ khác, câu bị động trong tiếng Việt được coi là quan hệ cải biến với câu chủ động tương ứng. Tuy nhiên, không phải câu chủ động nào cũng có thể chuyển thành câu bị động. Theo Nguyễn Hồng Cổn (2004) và Diệp Quang Ban (2000), xét về mặt hình thức, câu bị động trong tiếng Việt cần thoả mãn tất cả các điều kiện sau: chủ ngữ bị động là bổ ngữ của câu chủ động tương ứng; vị ngữ của câu bị động được tạo thành từ vị ngữ của câu bị động tương ứng bằng cách thêm bị hoặc được trước động từ ngoại động; bổ ngữ của câu bị động chính là chủ ngữ của câu chủ động tương ứng.
Bổ ngữ này thường được tỉnh lược trong câu bị động không có tác thể. Nếu không bị tỉnh lược, có thể chuyển vị trí trước động từ (trong câu bị động có bổ ngữ tác thể không có giới từ) hoặc ở vị trí sau động từ với điều kiện phải thêm giới từ bởi (trong câu bị động các tác thể bổ ngữ giới từ). Những điều kiện trên phải được thoả mãn đồng thời, những câu có chứa từ bị hoặc được mà không đáp ứng tất cả những điều kiện trên thì không thuộc phạm trù câu bị động. Có thể khái quát quá trình chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động như sau: Câu chủ động: N1 V N2 + Câu bị động phi tác thể: N2 bị/được V Ví dụ: Dao này được dùng gọt trái cây.
(1) 11 Nó bị lôi ra ngoài. (2) + Câu bị động có bổ ngữ tác thể không giới từ: N2 bị/được N1 V Ví dụ: Thuyền được người lái đẩy ra xa. (3) Em bé được mẹ rửa chân cho. (4) + Câu bị động có bổ ngữ tác thể có giới từ: N2 bị/được V bởi N1 Ví dụ: Màu cỏ úa đen đang được đẩy lùi bởi các dòng chữ xanh đen.
(5) Đền được xây dựng từ năm 1959 đến năm 1968 bởi Hội Phủ Giầy tương tế. Câu bị động trong tiếng Nhật 1. Động từ bị động trong tiếng Nhật Với đặc điểm là ngôn ngữ chấp dính, bị động được coi là phạm trù ngữ pháp trong tiếng Nhật. Ở các ngôn ngữ chấp dính, để biểu thị phạm trù ngữ pháp thường biến đổi một phần động từ để tại ra các chỉ tố về thời, thức, dạng…Trong tiếng Nhật, động từ được chia thành 3 nhóm và có đặc điểm như sau: - Động từ ngũ đoạn (động từ nhóm 1): động từ có nguyên âm phần cuối từ biến đổi thành năm đoạn.
Ví dụ: kaku(かく), hanasu(はなす), nomu(のむ), morau (もらう) (7) - Động từ nhất đoạn (động từ nhóm 2): động từ không có sự biến đổi nguyên âm phần cuối từ. Để biến đổi động từ thành động từ dạng bị động, cần biến đổi như sau: - Động từ ngũ đoạn: đổi âm /u/ tận cùng của động từ dạng từ điển sang âm /a/ rồi gắn thêm reru 「れる」. Ví dụ: かく → かかれる (9) はなす → はなされる のむ → のまれる - Động từ nhất đoạn: gắn rareru「られる」vào phần thân của động từ. Ví dụ: みる → みられる (10) たべる→ たべられる - Động từ bất quy tắc: 12 来る → 来られる する → される 1.
Câu bị động trong tiếng Nhật Câu bị động trong tiếng Nhật là câu diễn tả sự việc từ phía nhận được hành động từ người khác, động từ chính là động từ ở dạng bị động. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản với quan điểm khác nhau có nhiều cách phân loại câu bị động tiếng Nhật. Theo Suzuki (1972), câu bị động tiếng Nhật được phân thành 4 loại. Loại thứ nhất là 直接対象の受身 (bị động đối tượng trực tiếp), được hiểu là câu bị động của đối tượng trực tiếp.
Trong câu này, chủ ngữ chịu tác động trực tiếp từ đối tượng với cấu trúc tương đương là N1 が N2 に V られる. Ví dụ: さら子が二郎に殴られた。 (11) Sachiko bị Niro đánh Loại câu bị động thứ hai là 相手の受身 (bị động đối phương). Chủ ngữ của loại câu này chịu tác động gián tiếp từ đối tượng, thông qua tân ngữ được nêu trong câu. Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる.
Ví dụ:花子は太郎に算数を教えられた。 (12) Hanako được/bị Taro dạy tính toán cho. Loại câu thứ ba là 持ち主の受身 (câu bị động chủ sở hữu). Chủ ngữ của câu này chịu tác động của đối tượng lên một đồ vật thuộc sở hữu của mình. Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる trong đó N3 là vật sở hữu của N1.
Ví dụ: 太郎はリスに財布をすられた。 (13) Taro bị con sóc lấy mất ví Loại câu thứ tư là 第三者の受身 (bị động ngôi thứ ba). Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる. Ví dụ:私たちは隣の息子に一晩中うレコードをかけられた。 (14) Chúng tôi bị đứa con trai nhà bên bật máy nghe nhạc cả đêm 13 Cùng có ý kiến tương tự với Suzuki, Takahashi (2003) đã phân thành thành 4 loại như sau: Loại thứ nhất là 直接対象の受身 (bị động của đối tượng trực tiếp). Loại câu này giống loại câu thứ nhất theo phân loại của Suzuki.
Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に V られる. Ví dụ: バトンは第一走者から第二走者に渡された。 (15) Cây baton được đưa từ người chạy thứ nhất cho người chạy thứ hai. Loại câu thứ hai là 間接対象の受身 (bị động của đối tượng gián tiếp). Cấu trúc của loại câu thứ hai là N1 が N2 に N3 を V られる.
Ví dụ:第二走者が第一走者からバトンを渡された。 (16) Người chạy thứ hai được đưa cây ba-ton từ người chạy thứ nhất. Loại câu thứ ba là 持ち主の受身 (bị động chủ sở hữu). Loại câu này giống loại câu thứ ba của phân loại Suzuki. Chủ ngữ của câu này chịu tác động của đối tượng lên một đồ vật thuộc sở hữu của mình.
Cấu trúc của loại câu thứ ba là N1 が N2 に N3 を V られる trong đó N3 là vật sỡ hữu của N. Ví dụ:花子が財布をリスにすられた。 (17) Hanako bị con sóc lấy mất ví Loại câu thứ tư là 第三者の受身 (bị động ngôi thứ ba). Cấu trúc của loại câu này là N1 が N2 に N3 を V られる. Ví dụ:私たちは子供につりざおを振り回された。 (18) Chúng tôi bị trẻ con/đứa con vặn/ quay cần câu cá Ngoài ra, Takanashi cũng cho rằng 第三者の受身 (câu bị động ngôi thứ ba) hay còn gọi là めいわくの受身 (bị động phiền phức) là cấu trúc diễn tả việc ngôi thứ ba nhận sự phiền phức, rắc rối trong đó ngôi thứ ba là chủ ngữ vốn không phải là thành phần tác động trong câu gốc.
Theo Teramura (1982), dựa vào chủ ngữ của câu bị động chịu ảnh hương trực tiếp hay chịu ảnh hưởng gián tiếp của động từ được thể hiện bởi 述語動 詞 (động từ thuật ngữ) mà chia câu bị động tiếng Nhật thành câu bị động trực 14 tiếp và câu bị động gián tiếp. 直接受身(câu bị động trực tiếp) có chủ ngữ chịu tác động trực tiếp từ đối tượng được nêu trong câu. Cấu trúc của loại câu này là N1 が(N2 に) V ら れる.