Luận án đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu tiếng Việt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ học tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu với tiếng Việt. Phân tích văn bản, thuật ngữ chuyên ngành dược.

Tác giả

Võ Thị Bê

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ

2019

180
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cách nhận diện đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu

Tiếng Anh chuyên ngành dược học sở hữu hệ thống thuật ngữ khoa học (TNKH) phức tạp, mang tính quốc tế cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc hình thành từ vựng chuyên biệt. Trong nghiên cứu của Võ Thị Bê (2019), văn bản chuyên ngành dược học (VBCNDH) tiếng Anh được phân tích dựa trên ba tham số cốt lõi của ngữ cảnh ngôn ngữ: Trường (field), Không khí (tenor) và Cách thức (mode). Trường phản ánh nội dung tri thức dược học; Không khí thể hiện mối quan hệ giữa người viết và người đọc; Cách thức liên quan đến kênh truyền đạt và tổ chức văn bản. So với tiếng Việt, tiếng Anh chuyên ngành dược học thiên về cấu trúc bị động, sử dụng dày đặc đề ngữ đánh dấu (ĐNĐD) và quá trình vật chất (QT: VC), nhằm đảm bảo tính khách quan và chính xác. Đặc biệt, thức tuyên bố khẳng định (Thức TBKĐ) chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi thức mệnh lệnh (Thức ML) gần như vắng mặt. Việc nhận diện các đặc điểm này là nền tảng để thực hiện so sánh đối chiếu hiệu quả giữa hai hệ thống ngôn ngữ, hỗ trợ dịch thuật, giảng dạy và nghiên cứu liên ngành.

1.1. Đặc điểm Trường trong tiếng Anh chuyên ngành dược học

Trường trong VBCNDH tiếng Anh tập trung vào tri thức dược lý, dược động học, bào chế và kiểm nghiệm. Từ vựng chuyên ngành chủ yếu được hình thành qua tiền tốhậu tố Latin-Hy Lạp (ví dụ: anti-, -itis, -ology). Theo bảng phân tích trong luận án, hơn 70% TNKH có nguồn gốc từ Hy Lạp hoặc Latin. Các quá trình quan hệ (QT: QH) và quá trình hiện hữu (QT: HH) thường xuất hiện để mô tả tính chất, phân loại hoặc định nghĩa hợp chất dược phẩm.

1.2. Đặc điểm Không khí và Cách thức trong tiếng Anh chuyên ngành dược học

Không khí trong văn bản tiếng Anh chuyên ngành dược học mang tính ngôn thể (NT) trang trọng, phi cá nhân. Người viết thường ẩn mình sau dữ liệu, sử dụng chủ ngữ phi nhân xưng (it, this study). Về Cách thức, văn bản chủ yếu tồn tại ở dạng viết, với cấu trúc logic chặt chẽ, sử dụng dày đặc liên kết logic (mặc dù, do đó, tuy nhiên) và quy chiếu chỉ định (this compound, the result). Phát ngôn thể (PNT) thiên về mô tả và giải thích, ít mang tính tranh luận hay cảm xúc.

II. Thách thức khi đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt chuyên ngành dược học

Việc đối chiếu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học với tiếng Việt gặp nhiều rào cản về cấu trúc ngữ pháp, hệ thống thuật ngữ và phong cách diễn ngôn. Trong khi tiếng Anh ưa chuộng câu bị động và cấu trúc danh từ hóa, tiếng Việt lại thiên về câu chủ động và động từ hóa. Ví dụ, cụm “the administration of the drug” (tiếng Anh) thường được dịch tự nhiên sang tiếng Việt là “cho thuốc” chứ không phải “sự dùng thuốc”. Ngoài ra, thuật ngữ khoa học tiếng Việt thường được tạo mới dựa trên Hán Việt hoặc vay mượn trực tiếp từ tiếng Anh, dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất và gây khó khăn cho người học. Nghiên cứu của Võ Thị Bê (2019) chỉ ra rằng tần suất sử dụng thức nghi vấn (Thức NV) và tình thái trong tiếng Việt cao hơn, phản ánh xu hướng giao tiếp gián tiếp và thận trọng hơn. Sự khác biệt này đòi hỏi người dịch hoặc giảng viên phải hiểu sâu cả ngữ cảnh học thuật lẫn ngữ cảnh văn hóa để truyền tải chính xác thông điệp chuyên môn.

2.1. Khác biệt về hệ thống thuật ngữ và cấu tạo từ

Tiếng Anh dược học xây dựng TNKH theo mô hình cấu tạo từ quốc tế (prefix + root + suffix), trong khi tiếng Việt chủ yếu dựa vào Hán Việt hoặc mô phỏng ngữ nghĩa. Ví dụ: “antihypertensive” (chống tăng huyết áp) trong tiếng Anh là từ ghép có hệ thống, còn tiếng Việt dùng cụm từ mô tả. Điều này dẫn đến độ dài và độ phức tạp khác nhau giữa hai ngôn ngữ, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận thông tin.

2.2. Khác biệt về cấu trúc câu và phong cách diễn ngôn

VBCNDH tiếng Anh sử dụng nhiều đề ngữ liên nhân (ĐNLN) và đề ngữ văn bản (ĐNVB) để tạo mạch văn, trong khi tiếng Việt thiên về liên kết ý nghĩa qua ngữ cảnh. Ngoài ra, tiếng Việt có xu hướng sử dụng chủ ngữ hiển ngôn nhiều hơn, ngay cả khi chủ ngữ là “người ta” hoặc “các nhà nghiên cứu”, điều hiếm gặp trong văn bản học thuật tiếng Anh.

III. Phương pháp phân tích đối chiếu hiệu quả cho tiếng Anh dược học

Để thực hiện phân tích đối chiếu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học với tiếng Việt, cần áp dụng kết hợp lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday và phân tích thể loại diễn ngôn (genre analysis). Phương pháp này cho phép khảo sát đồng thời ba bình diện: ngữ cảnh (trường, không khí, cách thức), ngữ nghĩa (quá trình, thức, tình thái) và ngữ pháp–từ vựng (cấu trúc câu, đề ngữ, quy chiếu). Nghiên cứu của Võ Thị Bê (2019) sử dụng ngữ liệu từ 25 bài báo khoa học dược học tiếng Anh và tiếng Việt, phân tích định lượng và định tính để so sánh tần suất xuất hiện của các hiện tượng ngôn ngữ. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong cách tổ chức thông tin: tiếng Anh ưu tiên tính khách quantính phổ quát, trong khi tiếng Việt vẫn giữ dấu ấn của tính giao tiếptính địa phương. Phương pháp này không chỉ hỗ trợ dịch thuật mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc biên soạn giáo trình và đào tạo kỹ năng đọc hiểu văn bản chuyên ngành.

3.1. Ứng dụng lý thuyết Halliday trong phân tích đối chiếu

Lý thuyết Halliday giúp phân tích VBCNDH qua ba siêu chức năng: kinh nghiệm (mô tả thế giới), quan hệ xã hội (thể hiện vai trò người viết/người đọc) và văn bản (tổ chức mạch lạc). Trong tiếng Anh dược học, chức năng kinh nghiệm chiếm ưu thế với các quá trình tinh thần (QT: TT) như “demonstrate”, “suggest”, trong khi tiếng Việt thường dùng “cho thấy”, “gợi ý” – mang sắc thái tình thái nhẹ hơn.

3.2. Vai trò của phân tích thể loại diễn ngôn

Phân tích thể loại diễn ngôn giúp xác định cấu trúc điển hình của bài báo dược học: abstract, introduction, methods, results, discussion. Mỗi phần có đặc điểm ngôn ngữ riêng. Ví dụ, phần Methods trong tiếng Anh dùng nhiều câu bị động (“samples were analyzed”), trong khi tiếng Việt có thể dùng chủ động (“chúng tôi phân tích mẫu”). Hiểu rõ thể loại giúp người học tái tạo văn bản chuẩn mực.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu đối chiếu tiếng Anh dược học

Kết quả đối chiếu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học với tiếng Việt mang lại giá trị ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực. Trong giảng dạy, phát hiện về sự khác biệt trong cấu trúc đề ngữsử dụng tình thái giúp thiết kế bài học định hướng năng lực đọc hiểu và viết học thuật. Trong dịch thuật y dược, hiểu rõ xu hướng danh từ hóa (tiếng Anh) và động từ hóa (tiếng Việt) giúp tránh lỗi dịch word-for-word, đảm bảo bản dịch tự nhiên và chính xác. Ngoài ra, nghiên cứu còn hỗ trợ chuẩn hóa thuật ngữ dược học tiếng Việt, góp phần xây dựng từ điển chuyên ngành thống nhất. Các trường đại học như Đại học Dược Hà Nội đã bắt đầu tích hợp kiến thức ngôn ngữ học đối chiếu vào chương trình đào tạo, nhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên. Như Võ Thị Bê (2019) nhấn mạnh, việc kết hợp tri thức ngôn ngữ học với chuyên môn dược học là chìa khóa để hội nhập quốc tế hiệu quả.

4.1. Cải thiện giảng dạy và học tập tiếng Anh dược học

Giảng viên có thể sử dụng bảng so sánh về tần suất quá trình ngôn ngữ hoặc kiểu thức câu để giúp sinh viên nhận diện đặc điểm văn bản học thuật. Ví dụ, luyện tập chuyển đổi câu chủ động sang bị động, hoặc phân tích cấu trúc abstract trong bài báo quốc tế, là những hoạt động thiết thực dựa trên phát hiện nghiên cứu.

4.2. Hỗ trợ dịch thuật và chuẩn hóa thuật ngữ

Các dẫn chứng từ ngữ liệu (V1–V25) cho thấy sự đa dạng trong cách diễn đạt cùng một khái niệm dược học. Việc xây dựng ngân hàng thuật ngữ song ngữ dựa trên nguyên tắc đối chiếu sẽ giảm thiểu sai sót trong giao tiếp chuyên môn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và xuất bản quốc tế.

V. Tương lai của nghiên cứu đối chiếu tiếng Anh chuyên ngành dược học

Nghiên cứu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu đang mở ra nhiều hướng tiếp cận mới. Trí tuệ nhân tạo và xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) có thể được ứng dụng để phân tích hàng triệu văn bản dược học, từ đó xác định xu hướng ngôn ngữ theo thời gian và khu vực. Ngoài ra, cần mở rộng ngữ liệu sang các thể loại khác như hướng dẫn sử dụng thuốc, báo cáo lâm sàng, hoặc giao tiếp giữa dược sĩ và bệnh nhân – những lĩnh vực chưa được khai thác đầy đủ. Việc tích hợp ngôn ngữ học so sánh đối chiếu với khoa học dữ liệu sẽ giúp tạo ra công cụ hỗ trợ dịch thuật chuyên ngành chính xác hơn. Đồng thời, các nghiên cứu liên ngành giữa dược học, ngôn ngữ học và giáo dục cần được khuyến khích để phát triển chương trình đào tạo ngoại ngữ chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động toàn cầu.

5.1. Ứng dụng công nghệ trong phân tích ngôn ngữ dược học

Các mô hình NLP có thể tự động nhận diện thuật ngữ khoa học, phân loại quá trình ngôn ngữ, hoặc đánh giá mức độ tình thái trong văn bản. Điều này giúp tăng tốc độ và độ chính xác của phân tích đối chiếu, đặc biệt với khối lượng ngữ liệu lớn từ cơ sở dữ liệu PubMed hay Scopus.

5.2. Mở rộng sang các thể loại diễn ngôn dược học khác

Hiện tại, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bài báo khoa học. Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc, tư vấn dược lâm sàng hoặc giao tiếp đa văn hóa trong ngành dược cũng chứa đựng đặc điểm ngôn ngữ độc đáo, đáng được phân tích để phục vụ thực tiễn chăm sóc sức khỏe.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Đặc điểm tiếng anh chuyên ngành dược học trong sự đối chiếu với tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Dẫn nhập Để cho việc khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ một cách rõ ràng, chương này sẽ giải quyết ba vấn đề cơ bản. Thứ nhất, tổng quan tình hình những nghiên cứu văn bản chuyên ngành nói chung, văn bản chuyên ngành dược học và những nghiên cứu có liên quan trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong tiếng Anh và tiếng Việt. Thứ hai, trình bày một số quan điểm cơ bản về ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về ngôn ngữ trên phương diện ngữ vực (register) và một số lí thuyết về tiếng Việt có liên quan đến luận án.

Thứ ba, khái quát về quan điểm lí thuyết ngôn ngữ học đối chiếu. Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành trên thế giới Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên ngành. Tuy nhiên, một số nghiên cứu sau đây được cho là đại diện và phù hợp với nghiên cứu của luận án: (i) Nghiên cứu của Hutchison & Waters và một số nhà nghiên cứu khác [136], [137], [138], [139], [166]; (ii) Nghiên cứu của Dudley-Evans; (iii) Nghiên cứu của Halliday và một số nhà nghiên cứu khác. Theo hai nhà ngoại ngữ chuyên ngành nổi tiếng Hutchinson & Waters [139], tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu của những năm 1960.

Đồng thời nó cũng là kết quả của sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới trong những năm 1950 và 1960. Cụ thể là sự phát triển của khoa học và công nghệ, sử dụng tiếng Anh tăng nhanh như ngôn ngữ khoa học quốc tế, công nghệ và kinh doanh, quyền lực kinh tế ngày càng tăng đối với những quốc gia có mỏ dầu và sự gia tăng của lượng sinh viên quốc tế tham gia học tập ở Anh, Mỹ và Úc. Nghiên cứu của hai tác giả cũng chỉ ra tiếng Anh chuyên ngành được phát triển qua ba giai đoạn và được phát triển với tốc độ khác nhau ở những quốc gia khác khau. Hutchinson & Waters (Ibid.) quan niệm: “Tiếng Anh chuyên ngành là một đường hướng, không phải là một thành phẩm” (English for specific purpose must be seen as an approach not as a product).

Theo quan niệm này, Hutchinson & Waterscho rằng tiếng Anh chuyên ngành không phải là một thể loại ngôn ngữ đặc biệt, cần đến phương pháp tài liệu giảng dạy đặc biệt, nằm ngoài ngôn ngữ. Hoặc McDonough’s [166] đã cho rằng: 12 “Tiếng Anh chuyên ngành mô tả các chương trình ngôn ngữ thiết kế cho các nhóm hoặc cá nhân, những người đang học tập và có những mục đích và nhu cầu cụ thể, rõ ràng”. Ngoài ra, Hutchinson & Waters [139], Robinson [172], Dudley-Evans [92] cho rằng tiếng Anh chuyên ngành về cơ bản là phục vụ mục đích, nhu cầu rõ ràng, cụ thể của người học. Khi nghiên cứu về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành, Hutchinson & Waters [139] cũng khẳng định được kết quả của Swales [178] cho rằng trong thực tế tiếng Anh khoa học và công nghệ chính là sự minh họa cho sự phát triển của tiếng Anh chuyên ngành.

Khi nghiên cứu về kết quả của Ewer & Latorre [94], ông cũng hé lộ rằng có một chút khác biệt trong cấu trúc ngữ pháp trong tiếng Anh khoa học với tiếng Anh thông thường như sự khác nhau về sử dụng thì hiện tại đơn giản, dạng bị động và từ ghép. Trong quá trình nghiên cứu, ông cũng chỉ ra kết luận nghiên cứu của Ewer & Hughes-Davies [95] cho thấy ngôn ngữ trong các văn bản khoa học có sự xuất hiện của nhiều danh từ ghép, dạng bị động, câu điều kiện, động từ tình thái hơn so với các văn bản thông thường. Theo Dudley-Evans [92], nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành đã có từ lâu. Một vài ý kiến cho rằng nó có từ thời Đế chế La Mã và Đế chế Hy Lạp.

Tuy nhiên, từ những năm 1960, tiếng Anh chuyên ngành đã trở thành một lĩnh vực đổi mới và quan trọng trong quá trình giảng dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ. Gần đây, tiếng Anh chuyên ngành đã được chiếm ưu thế bởi việc dạy tiếng Anh với mục đích hàn lâm (EAP), hầu hết các tài liệu, việc học tập và nghiên cứu để được thực hiện trong lĩnh vực tiếng Anh với mục đích hàn lâm. Khi nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành, Dudley-Evans cũng cho rằng tiếng Anh chuyên ngành là một phần của sự phát triển của việc giảng dạy ngôn ngữ khoa học. Với công trình Development in ESP [92, tr.

4-79], Tony Dudley-Evans đã khái quát một số vấn đề đa dạng về ngôn ngữ trong tiếng Anh chuyên ngành, chủ yếu tập trung vào tiếng Anh chuyên ngành y và tiếng Anh chuyên ngành kinh doanh. Khi xem xét về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành, ông đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản về ngữ pháp, từ vựng và diễn ngôn. Có thể thấy, tiếng Anh chuyên ngành tập trung theo một số hướng nghiên cứu dưới đây: Hướng nghiên cứu ngữ pháp trong tiếng Anh chuyên ngành: một số nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành với dạng ngữ pháp cơ bản. Việc phân tích ngữ vực đã chỉ ra “thì” và “dạng” động từ được chiếm ưu thế trong tiếng Anh khoa học và công 13 nghệ.

Nghiên cứu của Tony Dudley-Evans đã chỉ ra những kết luận cơ bản mà chính những kết luận này cũng đã được Barber chỉ ra: “thì” (tense) của tiếng Anh với mục đích hàn lâm thường tập trung sử dụng thì hiện tại đơn giản, dạng chủ động, bị động và động từ tình thái (dẫn theo Swales [179]). Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây của Tony Dudley-Evans cũng đã nhận định trên quan điểm của Swales [179] nhìn các văn bản khoa học từ góc độ thể loại thì việc sử dụng của thì hiện tại hoàn thành trong tiếng Anh có lẽ cũng rất quan trọng trong các bài báo hàn lâm khoa học. Việc sử dụng thì của động từ trong các bài báo hàn lâm khoa học được Tony Dudley-Evans thể hiện như sau: Thì hiện tại đơn (dạng chủ động và bị động), hiện tại hoàn thành thường được sử dụng trong phần dẫn luận. Tuy nhiên, dạng bị động chỉ được sử dụng để mô tả các phương pháp nghiên cứu.

Phần thảo luận hay phần kết luận trong các bài báo hàn lâm khoa học thường hay sử dụng thì quá khứ. Trong khi đó, thì hiện tại thường hay được sử dụng trong các phần bình luận hay chú giải trong các bài báo hàn lâm. Ở dạng bị động của tiếng Anh chuyên ngành, Tony Dudley-Evans [92] cũng chỉ ra kết quả của Wingard [189] cho rằng trong các văn bản y học, có tới 60% động từ được sử dụng ở dạng chủ động và gần 40% được sử dụng ở dạng bị động. Xu hướng sử dụng dạng chủ động để mô tả sự lựa chọn các thủ tục; tuy nhiên dạng bị động được sử dụng khi các tiến trình thủ tục được miêu tả.

Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra rằng kết quả nghiên cứu của Tarone và cộng sự, họ cho rằng xu hướng sử dụng dạng chủ động đối với những nghiên cứu của bản thân người nghiên cứu, nhưng dạng bị động được sử dụng để đề cập đến những nghiên cứu trước đó [182]. Với động từ tình thái trong tiếng Anh chuyên ngành, nghiên cứu của Tony Dudley-Evans về tiếng Anh chuyên ngành cũng chỉ ra động từ tình thái đặc biệt là may, might, could, would dùng để chỉ mức độ chắc chắn của một tuyên bố hay một yêu cầu trong văn bản khoa học [92]. Nếu tuyên bố đưa ra sự tương phản trong kết quả, may được sử dụng để nói đến những vấn đề không chắc chắn và những tuyên bố cảnh báo. Tuy nhiên, nếu tuyên bố đưa ra sự tương phản trong kết quả, could được sử dụng để nói những vấn đề không chắc chắn, thậm chí là những tuyên bố cao hơn mức độ cảnh báo.

14 Trên phương diện liên kết logic của tiếng Anh chuyên ngành, Tony Dudley- Evans [92] cũng chỉ ra liên kết logic trong văn bản khoa học, ví dụ như moreover, however, therefore luôn xuất hiện cao trong các diễn ngôn y học. Nó được xem là chìa khóa để hiểu mối quan hệ logic ngữ nghĩa trong diễn ngôn khoa học. Hướng nghiên cứu từ vựng trong tiếng Anh chuyên ngành: Khi nghiên cứu về từ vựng trong tiếng Anh chuyên ngành, đặc biệt là từ vựng bán kỹ thuật và từ vựng kinh doanh, nghiên cứu của Tony Dudley-Evans cũng thống nhất với kết quả nghiên cứu của Baker [69] với 6 đặc điểm của từ vựng có liên quan đến tiếng Anh với mục đích hàn lâm: (i) Loại từ vựng diễn tả các khái niệm phổ biến trong tất cả các bài nghiên cứu khoa học; (ii) Loại từ vựng trong ngôn ngữ thông thường có nghĩa đặc biệt trong các bài nghiên cứu khoa học; (iii) Loại từ đặc biệt có nghĩa khác nhau trong các bài nghiên cứu khoa học khác nhau; (iv) Loại từ vựng trong ngôn ngữ thông thường có nghĩa hạn chế trong các bài nghiên cứu khoa học; (v) Loại từ vựng trong ngôn ngữ thông thường được sử dụng để mô tả hoặc đưa ra các lời chú giải đối với chức năng hoặc các tiến trình kỹ thuật hơn là các phần khác với nghĩa tương tự. Ví dụ, người ta dùng “occur” hơn là “happen”; và (vi) Loại từ vựng thường được sử dụng để đánh dấu sự quan tâm hay đánh giá tài liệu được thực hiện.

Trong nghiên cứu, Dudley-Evans cũng đã chỉ ra sáu loại từ vựng này có thể được xem chồng lấp lên nhau và dường như được chia làm hai lĩnh vực: (i) lĩnh vực từ vựng được sử dụng trong ngôn ngữ thông thường nhưng có ảnh hưởng lớn hơn trong ngôn ngữ khoa học kỹ thuật; (ii) loại từ vựng có nghĩa đặc biệt trong các bài báo chuyên ngành cụ thể và có thể nó có sự đa dạng về nghĩa trong các chuyên ngành khác nhau. Hướng nghiên cứu ngữ nghĩa trong tiếng Anh chuyên ngành: Bên cạnh những nhà nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành đã nêu ở trên, còn có nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành như Lenneberg [153], Herbert [126], Kelly [146], Jones [145], Herbolich [127], Chitravelu [77], Hullen [135], Coffey [79], Kennedy & Bolitho [147], Maher [158], Dudley Evans [90], Robinson [172], Martin [159], Strevens [177], Hyland [140], [141], và nhiều học giả khác. Tuy nhiên, từ một góc nhìn khác, khi nghiên cứu về bản chất của các văn bản khoa học tiếng Anh, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh Michael Halliday đã chỉ ra thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học” là tên gọi cho một biến thể chức năng hay một kiểu ngữ 15 vực được khái quát hóa trong một ngôn ngữ cụ thể. Sự đa dạng về loại hình văn bản có thể được mô tả theo ba thông số của ngôn cảnh tình huống: Trường, Không khí, và Cách thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ