Luận văn: Nghiên cứu dùng cát đồi Vạn Ninh thay thế cát sông chế tạo bê tông

Luận văn phân tích giải pháp dùng cát đồi Vạn Ninh thay thế cát sông trong sản xuất bê tông. Đánh giá chi tiết các đặc tính cơ lý và cường độ.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2018

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cát đồi Vạn Ninh Giải pháp vật liệu xây dựng bền vững

Ngành xây dựng tại Khánh Hòa, đặc biệt là khu vực Bắc Vân Phong, đang đối mặt với bài toán kép: nhu cầu vật liệu xây dựng thay thế tăng cao và áp lực bảo vệ môi trường ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về cát đồi Vạn Ninh như một nguồn cốt liệu nhỏ thay thế cho cát sông truyền thống mở ra một hướng đi đầy tiềm năng. Luận văn thạc sĩ của Lê Thành Đức (Đại học Bách khoa Đà Nẵng, 2018) đã cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho giải pháp này. Cát đồi, với trữ lượng dồi dào tại địa phương, không chỉ hứa hẹn giải quyết vấn đề nguồn cung vật liệu xây dựng Khánh Hòa mà còn góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực từ việc khai thác cát sông. Bài viết này sẽ phân tích sâu các kết quả nghiên cứu, từ đặc tính cơ lý của cát đồi đến khả năng ứng dụng thực tế trong chế tạo bê tông thương phẩm, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về giải pháp bền vững này. Việc tận dụng nguồn tài nguyên tại chỗ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế qua việc giảm chi phí vận chuyển mà còn là bước đi chiến lược hướng tới phát triển ngành xây dựng xanh, phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh. Nghiên cứu này tập trung vào bê tông cấp bền B20, một loại phổ biến trong xây dựng dân dụng, và đánh giá cường độ bê tông qua các mốc thời gian quan trọng, tạo tiền đề cho việc xây dựng các tiêu chuẩn ứng dụng rộng rãi.

1.1. Bối cảnh và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng của tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt với định hướng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và sự hình thành Đặc khu kinh tế Bắc Vân Phong, đã kéo theo nhu cầu xây dựng hạ tầng tăng vọt. Điều này tạo ra áp lực khổng lồ lên nguồn cung vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát. Theo quy hoạch của tỉnh, nhu cầu cát xây dựng hàng năm từ 1,6 - 1,9 triệu m³, trong khi công suất khai thác chỉ đạt 1,45 triệu m³. Sự chênh lệch cung - cầu này không chỉ đẩy giá thành lên cao mà còn dẫn đến tình trạng khai thác quá mức, gây ra những hệ lụy nghiêm trọng về môi trường. Do đó, việc tìm kiếm và nghiên cứu các vật liệu xây dựng thay thế có ý nghĩa vô cùng cấp thiết. Nghiên cứu sử dụng cát đồi Vạn Ninh có ý nghĩa thực tiễn to lớn, trực tiếp giải quyết bài toán tại địa phương, mở ra hướng đi mới cho ngành xây dựng tỉnh nhà.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu ứng dụng cát đồi

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định khả năng và tỷ lệ thay thế hợp lý của cát đồi Vạn Ninh cho cát sông trong chế tạo bê tông cấp bền B20. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá sự thay đổi cường độ chịu nén của bê tông ở các tuổi 3, 7, 14, 28, 60 và 90 ngày. Các thí nghiệm được tiến hành với bốn cấp phối: một cấp phối đối chứng sử dụng 100% cát sông và ba cấp phối thử nghiệm với tỷ lệ thay thế cát đồi lần lượt là 15%, 20% và 25%. Các vật liệu đầu vào như xi măng PCB 40 Vicem Hà Tiên, đá dăm 1x2 cm từ mỏ Hòn Thị, và cát sông Cái Nha Trang đều là những vật liệu phổ biến tại địa phương, đảm bảo tính ứng dụng cao của kết quả nghiên cứu.

II. Thách thức khan hiếm cát sông Giải pháp bảo vệ môi trường

Vấn đề khan hiếm cát sông không còn là câu chuyện của riêng một địa phương nào mà đã trở thành một thách thức toàn cầu. Tại Khánh Hòa, tình trạng này càng trở nên cấp bách khi các mỏ cát truyền thống đang dần cạn kiệt, chất lượng suy giảm với hàm lượng bùn, bẩn tăng cao. Việc khai thác cát thiếu kiểm soát đã gây ra những hậu quả môi trường nghiêm trọng. Hiện tượng sạt lở bờ sông ngày càng gia tăng, làm mất đất sản xuất, đe dọa an toàn của các công trình ven sông và cuộc sống người dân. Hệ sinh thái sông ngòi bị phá vỡ, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản. Đối mặt với thực trạng này, việc tìm kiếm giải pháp thay thế là mệnh lệnh bắt buộc để hướng tới sự phát triển bền vững. Khai thác cát đồi nổi lên như một lựa chọn khả thi, giúp giảm áp lực lên hệ thống sông ngòi. Việc chuyển hướng sang khai thác tại các mỏ cát Vạn Ninh không chỉ đảm bảo nguồn cung ổn định mà còn là một hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, giảm thiểu xói mòn và sạt lở. Đây là một bước chuyển dịch quan trọng từ mô hình khai thác tận thu sang mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng hiệu quả tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến tự nhiên.

2.1. Thực trạng khai thác quá mức và hệ lụy sạt lở bờ sông

Việc khai thác cát sông vượt quá khả năng bồi đắp tự nhiên của dòng chảy đã làm thay đổi nghiêm trọng chế độ thủy văn của các con sông tại Khánh Hòa. Lòng sông bị hạ thấp, gây mất ổn định và dẫn đến sạt lở bờ sông trên diện rộng. Hậu quả không chỉ dừng lại ở việc mất đất nông nghiệp mà còn trực tiếp đe dọa các công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi và khu dân cư. Chi phí để khắc phục những thiệt hại này là vô cùng lớn, tạo gánh nặng cho ngân sách và xã hội. Hơn nữa, chất lượng cát khai thác ngày càng kém, không đáp ứng được tiêu chuẩn cát cho bê tông, đòi hỏi thêm chi phí xử lý, sàng rửa, làm tăng giá thành xây dựng.

2.2. Cát đồi Vạn Ninh Hướng đi giảm áp lực môi trường

Trữ lượng cát tại khu vực bán đảo Hòn Gốm (Vạn Ninh) được đánh giá là rất lớn, lên đến hàng trăm triệu tấn. Khác với cát sông, việc khai thác cát đồi được quy hoạch bài bản sẽ ít gây tác động đến hệ sinh thái nhạy cảm. Quá trình khai thác có thể kết hợp với việc cải tạo địa hình, trồng lại thảm thực vật để chống sa mạc hóa và xói mòn. Theo nghiên cứu, cát đồi tại đây có nguồn gốc từ trầm tích biển-gió, đã được rửa mặn tự nhiên qua hàng ngàn năm, là nguồn vật liệu xây dựng không nung tiềm năng. Việc đưa vào sử dụng nguồn tài nguyên này là một giải pháp bền vững, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa giảm thiểu tối đa các hệ lụy môi trường do khai thác cát sông gây ra, góp phần bảo vệ cảnh quan và hệ sinh thái ven biển.

III. Phân tích đặc tính cát đồi Vạn Ninh theo tiêu chuẩn bê tông

Để đánh giá khả năng sử dụng cát đồi Vạn Ninh làm cốt liệu cho bê tông, việc phân tích các chỉ tiêu cơ-lý-hóa là bước đi tiên quyết. Nghiên cứu đã tiến hành các thí nghiệm vật liệu chi tiết dựa trên các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành, đặc biệt là TCVN 7570:2006. Kết quả cho thấy, cát đồi Vạn Ninh (mẫu lấy tại Hòn Gầm) có những đặc điểm riêng biệt. Về chất lượng cát xây dựng, hàm lượng tạp chất như bùn, bụi, sét rất thấp (0,57%), thấp hơn nhiều so với cát sông (1,12%), đây là một ưu điểm lớn. Tuy nhiên, thách thức chính nằm ở thành phần hạt của cát. Cát đồi có đặc tính hạt rất mịn và khá đồng đều, tập trung chủ yếu ở kích thước lọt sàng 1,25 mm và giữ lại trên sàng 0,63 mm. Điều này làm cho modul độ lớn của cát chưa hoàn toàn tối ưu nếu sử dụng độc lập. Do đó, giải pháp phối trộn với cát sông được đề xuất nhằm cải thiện đường cong cấp phối, đảm bảo hỗn hợp cốt liệu nhỏ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật khắt khe nhất của tiêu chuẩn cát cho bê tông, từ đó tạo ra sản phẩm bê tông có độ đặc chắc và cường độ cao.

3.1. Phân tích thành phần hạt và modul độ lớn của cát

Kết quả thí nghiệm cho thấy thành phần hạt của cát đồi Vạn Ninh rất tập trung. Cụ thể, lượng sót tích lũy trên sàng 1,25mm chỉ là 7,51%, trong khi lượng sót trên sàng 0,63mm lên tới 93,60%. Điều này cho thấy cát rất mịn và đồng nhất, không có sự phân bố đa dạng về kích thước hạt như cát sông. Modul độ lớn của cát (Mđl) đạt 3,0, về cơ bản nằm trong ngưỡng cho phép đối với cát thô. Tuy nhiên, đường cong cấp phối hạt không nằm hoàn toàn trong vùng cho phép của TCVN 7570:2006. Đây là lý do cốt lõi cho thấy cát đồi không thể sử dụng độc lập 100% để chế tạo bê tông chất lượng cao mà cần phải được phối trộn với cát sông có cỡ hạt lớn hơn để tạo ra một hỗn hợp có cấp phối tối ưu.

3.2. Đánh giá hàm lượng muối và các tạp chất có hại

Một trong những lo ngại lớn nhất khi sử dụng cát có nguồn gốc biển là hàm lượng muối clorua (Cl-) và sunfat (SO4²-), những tác nhân gây ăn mòn cốt thép. Kết quả kiểm nghiệm tại Viện Pasteur Nha Trang cho thấy hàm lượng ion Cl- trong mẫu cát Hòn Gầm là 3,0 g/m³, tương đương 0,00019% khối lượng, thấp hơn rất nhiều so với giới hạn cho phép là 0,05% theo TCVN 7570:2006. Hàm lượng bùn, bụi, sét cũng chỉ ở mức 0,57%, cho thấy cát rất sạch. Điều này chứng tỏ cát đồi Vạn Ninh đã trải qua quá trình rửa mặn tự nhiên hiệu quả, đảm bảo an toàn cho kết cấu bê tông cốt thép và đạt yêu cầu về chất lượng cát xây dựng.

IV. Phương pháp dùng cát đồi Vạn Ninh thay thế cát sông hiệu quả

Từ những phân tích về đặc tính vật liệu, giải pháp tối ưu là phối trộn cát đồi Vạn Ninh với cát sông để tạo ra một hỗn hợp cốt liệu nhỏ đạt chuẩn. Nghiên cứu đã tập trung vào việc thiết kế các cấp phối bê tông cấp bền B20, sử dụng các tỷ lệ thay thế khác nhau để tìm ra phương án hiệu quả nhất. Quy trình thực nghiệm được tiến hành bài bản tại phòng thí nghiệm LAS XD 1396, từ khâu lựa chọn vật liệu, tính toán cấp phối, trộn hỗn hợp, đúc mẫu và bảo dưỡng theo điều kiện tiêu chuẩn. Ba tỷ lệ thay thế được lựa chọn là 15%, 20% và 25% cát đồi. Việc lựa chọn các tỷ lệ này dựa trên mục tiêu cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Nếu tỷ lệ quá thấp, tính kinh tế không cao; nếu quá cao, có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng cát xây dựng của hỗn hợp và các đặc tính của bê tông. Quá trình thí nghiệm không chỉ đo lường cường độ bê tông mà còn theo dõi các chỉ tiêu quan trọng khác như độ sụt của bê tông tươi, qua đó đánh giá ảnh hưởng của cát đồi đến tính công tác của hỗn hợp. Kết quả từ các thí nghiệm này là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất tỷ lệ thay thế tối ưu trong thực tiễn sản xuất bê tông thương phẩm.

4.1. Thiết kế các cấp phối bê tông với tỷ lệ thay thế khác nhau

Nghiên cứu đã thiết kế 4 loại cấp phối bê tông. Cấp phối 0 (đối chứng) sử dụng 100% cát sông Cái Nha Trang. Ba cấp phối còn lại lần lượt thay thế 15% (Cấp phối 1), 20% (Cấp phối 2), và 25% (Cấp phối 3) khối lượng cát sông bằng cát đồi Vạn Ninh. Các thành phần khác như xi măng (PCB40), đá dăm (1x2 cm) và tỷ lệ Nước/Xi măng được giữ không đổi trong tất cả các cấp phối để đảm bảo tính so sánh khách quan. Việc phối trộn hỗn hợp cát được thực hiện trước khi đưa vào máy trộn bê tông. Thí nghiệm cho thấy hỗn hợp cát với các tỷ lệ thay thế này đều có đường cong thành phần hạt nằm trong vùng cho phép của tiêu chuẩn, chứng tỏ giải pháp phối trộn là hoàn toàn khả thi.

4.2. Quy trình thí nghiệm và bảo dưỡng mẫu bê tông tiêu chuẩn

Quy trình thí nghiệm vật liệu được thực hiện nghiêm ngặt theo các TCVN liên quan. Hỗn hợp bê tông được trộn bằng máy trộn tự do 300 lít. Độ sụt được kiểm tra ngay sau khi trộn để đánh giá tính linh động. Mẫu bê tông được đúc trong khuôn lập phương tiêu chuẩn kích thước 150x150x150 mm. Sau khi đúc, các mẫu được bảo dưỡng trong điều kiện tiêu chuẩn (ngâm trong nước tại phòng thí nghiệm) để đảm bảo quá trình thủy hóa xi măng diễn ra thuận lợi. Việc tuân thủ quy trình chuẩn giúp loại bỏ các yếu tố sai số, đảm bảo kết quả thí nghiệm nén mẫu phản ánh chính xác cường độ bê tông của từng cấp phối.

V. Kết quả thực nghiệm cường độ bê tông dùng cát đồi Vạn Ninh

Kết quả thí nghiệm nén mẫu là phần quan trọng nhất, khẳng định tính hiệu quả của giải pháp sử dụng cát đồi Vạn Ninh. Các số liệu về cường độ bê tông ở các tuổi 3, 7, 14, 28, 60 và 90 ngày đã cho thấy những quy luật phát triển cường độ rất rõ ràng. Nhìn chung, tất cả các cấp phối có sử dụng cát đồi đều đạt và vượt mác thiết kế B20 (tương đương cường độ chịu nén 20 MPa) ở tuổi 28 ngày. Một điểm đáng chú ý là ở giai đoạn đầu (3 và 7 ngày), các mẫu sử dụng cát đồi có xu hướng phát triển cường độ nhanh hơn so với mẫu đối chứng. Điều này có thể được giải thích do cát đồi mịn hơn, làm tăng diện tích tiếp xúc và thúc đẩy phản ứng thủy hóa xi măng ban đầu. Ở tuổi 28 ngày, cấp phối thay thế 15% và 20% cho cường độ tương đương, thậm chí cao hơn một chút so với mẫu 100% cát sông. Cấp phối 25% có cường độ thấp hơn nhưng vẫn đạt yêu cầu. Các kết quả này chứng minh rằng việc thay thế một phần cát sông bằng cát đồi Vạn Ninh không những không làm giảm chất lượng mà còn có thể cải thiện một số đặc tính của bê tông, mở ra khả năng ứng dụng rộng rãi trong sản xuất bê tông thương phẩm.

5.1. Phân tích sự phát triển cường độ bê tông theo thời gian

Biểu đồ phát triển cường độ bê tông cho thấy một quy luật chung: cường độ tăng nhanh trong 28 ngày đầu và tiếp tục tăng chậm hơn ở các tuổi sau. Cụ thể ở tuổi 28 ngày, mẫu đối chứng (100% cát sông) đạt cường độ trung bình 28,1 MPa. Các mẫu thay thế 15% và 20% cát đồi đạt cường độ lần lượt là 28,8 MPa (cao hơn 102,5%) và 28,2 MPa (cao hơn 100,4%). Mẫu thay thế 25% đạt 26,9 MPa (bằng 95,7% so với mẫu đối chứng). Sự khác biệt này cho thấy tỷ lệ thay thế 15-20% là tối ưu, giúp tận dụng ưu điểm của cát mịn mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc khung chịu lực của cốt liệu trong bê tông.

5.2. So sánh cường độ giữa các cấp phối và tỷ lệ thay thế tối ưu

Dựa trên kết quả thí nghiệm vật liệu, có thể kết luận tỷ lệ thay thế tối ưu nằm trong khoảng 15% đến 20%. Ở tỷ lệ này, cường độ bê tông không chỉ đảm bảo mà còn có phần ưu việt hơn so với việc chỉ dùng cát sông. Việc sử dụng cát đồi giúp lấp đầy các lỗ rỗng nhỏ tốt hơn, làm tăng độ đặc của bê tông. Tuy nhiên, khi tăng tỷ lệ lên 25%, lượng hạt mịn quá nhiều có thể làm tăng nhu cầu nước, dẫn đến giảm cường độ nếu không điều chỉnh tỷ lệ N/X. Do đó, để ứng dụng trong sản xuất bê tông thương phẩm đại trà, việc áp dụng tỷ lệ 15-20% là một giải pháp bền vững, vừa an toàn về mặt kỹ thuật, vừa hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường.

VI. Tương lai Cát đồi Vạn Ninh Hướng đi cho xây dựng bền vững

Nghiên cứu sử dụng cát đồi Vạn Ninh để thay thế một phần cát sông trong chế tạo bê tông đã chứng minh được tính khả thi và hiệu quả cả về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế. Đây không chỉ là một giải pháp tình thế cho vấn đề khan hiếm cát sông mà còn là một định hướng chiến lược cho ngành xây dựng tại Khánh Hòa và các tỉnh duyên hải miền Trung. Kết quả nghiên cứu mở ra tiềm năng to lớn trong việc tận dụng nguồn tài nguyên dồi dào tại địa phương, giảm chi phí xây dựng và quan trọng hơn là giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Tương lai của việc ứng dụng cát đồi Vạn Ninh phụ thuộc vào việc xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể và quy hoạch khai thác cát đồi một cách khoa học, bền vững. Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về các cấp bê tông có cường độ cao hơn, cũng như đánh giá các đặc tính lâu dài của bê tông như độ co ngót, từ biến và khả năng chống xâm thực. Việc thương mại hóa thành công giải pháp này sẽ tạo ra một cú hích cho thị trường vật liệu xây dựng thay thế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh và bền vững cho ngành xây dựng Việt Nam.

6.1. Đề xuất ứng dụng và tiềm năng kinh tế của giải pháp

Từ kết quả nghiên cứu, có thể đề xuất ứng dụng rộng rãi cát đồi Vạn Ninh với tỷ lệ thay thế 15-20% cho cát sông trong sản xuất bê tông cấp bền B20 và các loại vữa xây dựng. Tiềm năng kinh tế là rất lớn. Việc sử dụng nguồn cát tại chỗ giúp giảm đáng kể chi phí vận chuyển, hạ giá thành sản phẩm bê tông thương phẩm. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các dự án lớn tại khu kinh tế Bắc Vân Phong. Hơn nữa, việc chủ động được nguồn cung vật liệu xây dựng Khánh Hòa sẽ giúp ổn định thị trường, tránh phụ thuộc vào các nguồn cung từ xa, vốn có nhiều biến động về giá cả và chất lượng.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và khuyến nghị chính sách

Để hoàn thiện giải pháp bền vững này, cần triển khai các hướng nghiên cứu tiếp theo. Cần nghiên cứu ứng dụng cát đồi cho các loại bê tông mác cao hơn (B25, B30), bê tông tự lèn hoặc bê tông tính năng cao. Các nghiên cứu về độ bền lâu dài trong môi trường biển cũng là cần thiết. Về mặt chính sách, UBND tỉnh Khánh Hòa cần sớm có quy hoạch chi tiết các mỏ cát Vạn Ninh, ban hành các quy định, hướng dẫn về khai thác cát đồi gắn liền với bảo vệ môi trường và phục hồi hệ sinh thái. Cần xây dựng và ban hành tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) cho việc sử dụng hỗn hợp cát sông và cát đồi trong sản xuất bê tông, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp áp dụng.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG VÀ CÁC VẬT LIỆU CẤU THÀNH 1. Tổng quan về bê tông và các vật liệu cấu thành 1. Tổng quan về bê tông Bê tông là loại vật liệu đá nhân tạo đƣợc hình thành sau quá trình đóng rắn của hỗn hợp đƣợc phối trộn hợp lý của xi măng, nƣớc, cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm), chất độn và phụ gia. Cốt liệu đóng vai trò là khung chịu lực, chiếm từ 80 đến 85% thể tích.

Hồ xi măng gồm xi măng, cát và nƣớc bao bọc xung quanh cốt liệu đóng vai trò là chất kết dính chiếm 10 đến 20% khối lƣợng. Sau khi đông cứng, hồ chất kết dính gắn kết các hạt cốt liệu thành một khối tƣơng đối đồng nhất và đƣợc gọi là bê tông. Hỗn hợp nguyên liệu mới nhào trộn gọi là hỗn hợp bê tông hay bê tông tƣơi; hỗn hợp bê tông sau khi đông cứng, rắn chắc, chuyển sang trạng thái đá đƣợc gọi là bê tông. Yêu cầu cơ bản của bê tông là phải đạt đƣợc cƣờng độ (đặc biệt là cƣờng độ chịu n n) ở tuổi quy định hoặc đạt các yêu cầu khác nhau: độ chống thấm, ổn định với môi trƣờng và độ tin cậy khi khai thác, giá thành không quá đắt [6].

Có nhiều cách để phân ra các dạng bê tông khác nhau nhƣ: phân loại theo cƣờng độ, theo chất kết dính, theo cốt liệu, theo khối lƣợng thể tích. Bê tông truyền thống có cƣờng độ từ 15 đến 20 (MPa). Bê tông thƣờng có cƣờng độ n n từ 20 đến 50 (MPa), bê tông chất lƣợng cao và rất cao có cƣờng độ n n từ 50 đến 200 (MPa). Bê tông và bê tông cốt th p đƣợc sử dụng rộng rãi trong xây dựng vì chúng có những ƣu điểm nổi bật sau: cƣờng độ chịu lực cao, có thể chế tạo đƣợc những loại bê tông có cƣờng độ, hình dạng và tính chất khác nhau giá thành rẻ, khá bền vững và ổn định đối với mƣa nắng, nhiệt độ, độ ẩm [6].

Phân loại bê tông Theo [6], có thể phân loại bê tông nhƣ sau: - Theo dạng chất kết dính: Bê tông xi măng, bê tông silicat, bê tông thạch cao, bê tông polime. - Theo dạng cốt liệu: Bê tông cốt liệu đặc, bê tông cốt liệu rỗng, bê tông cốt liệu đặc biệt. - Theo khối lượng thể tích: - Bê tông đặc biệt nặng (γ > 2500 kg/m3); - Bê tông nặng (γ = 2200 ÷ 2500 kg/m3); - Bê tông tƣơng đối nặng (γ = 1800 ÷ 2200 kg/m3); 6 - Bê tông nhẹ (γ= 500 ÷ 1800 kg/m3). - Theo công dụng: - Bê tông thƣờng: dùng cho các kết cấu bê tông cốt th p; - Bê tông thủy công: xây đập, âu thuyền, kênh, công trình dẫn nƣớc; - Bê tông mặt đƣờng, sân bay, vỉa hè…; - Bê tông dùng cho kết cấu bao che (thƣờng là bê tông nhẹ); - Bê tông có công dụng đặc biệt (chịu nhiệt, chịu axit, chống phóng xạ…).

Cấu trúc bê tông Sau khi tạo hình, các thành phần của hỗn hợp bê tông đƣợc sắp xếp chặt chẽ, kết hợp với sự thủy hóa củaxi măng hình thành nên cấu trúc bê tông. Khoảng thời gian hình thành cấu trúc, cũng nhƣ cƣờng độ đầu tiên của bê tông phụ thuộc vào thành phần của bê tông, dạng chất kết dính và phụ gia hóa học. Cấu trúc vi mô của bê tông có thể đƣợc biểu diễn nhƣ trên hình 1 gồm 3 phần cơ bản là: phần hơi, phần nƣớc và phần rắn [6]. Cấu trúc của bê tông Phần rắn gồm đá xi măng, khung cốt liệu và các liên kết giữa đá xi măng và khung cốt liệu.

Đá xi măng đƣợc cấu thành bởi các hạt xi măng thủy hóa chứa khoảng 50% gel C-S-H, 20% vôi liên kết Ca(OH)2, 10% aluminates và sunfo–aluminates của canxihydrat hóa và 20% các thành phần khác (CA2SH8, CA3). Liên kết đá xi măng – khung cốt liệu tồn tại xung quanh khung cốt liệu và phụ thuộc vào hình dạng cũng nhƣ thành phần hóa học các hạt cốt liệu. Các kết quả thí nghiệm cho thấy, các hạt cốt liệu đá canxi khá rỗng và có liên kết chống thấm tốt hơn trong khi các cốt liệu đá silic cho liên kết chống thấm k m hơn [6]. 7 Phần lỏng bao gồm các dạng nƣớc khác nhau cùng tồn tại trong bê tông: nƣớc lỗ rỗng, nƣớc hấp phụ và nƣớc có liên kết hóa học.

Nƣớc lỗ rỗng lấp đầy thể tích rỗng nếu bê tông hoàn toàn bão hòa. Khi bê tông không bão hòa, nƣớc lỗ rỗng phân cách với phần hơi bởi các mặt cong mao dẫn (menisque). Nƣớc hấp phụ có mặt trên thành của các lỗ rỗng, nhất là trên gel C-S-H và chịu tác động của các lực mặt qua trung gian các lực liên phân tử Van der Waals và các lực tĩnh điện; có đến 6 lớp phân tử nƣớc có thể bị giữ lại trên bề mặt, tuy nhiên lực hấp dẫn giảm khi mà khoảng cách giữa lớp phân tử với bề mặt rắn tăng lên. Việc mất nƣớc hút bám là nguyên nhân chủ yếu của sự co ngót của đá xi măng khi bị làm khô.

Nƣớc có liên kết hóa học là nƣớc cần thiết cho các phản ứng hydrat hóa của xi măng, loại nƣớc này chỉ bị bay hơi khi nhiệt độ lên tới trên 4000C [6]. Phần khí bao gồm khí và hơi nƣớc cùng tồn tại trong các lỗ rỗng của bê tông. Với bê tông bão hòa hoàn toàn, phần hơi bị chiếm chỗ bởi nƣớc lỗ rỗng [6]. Tính chất cơ học của bê tông Theo [7], cƣờng độ của bê tông là chỉ tiêu quan trọng thể hiện khả năng chịu lực của vật liệu.

Cƣờng độ của bê tông phụ thuộc vào thành phần và cấu trúc của nó. Với bê tông, cần xác định cƣờng độ chịu n n và cƣờng độ chịu kéo. Cư ng đ ch u n n Cƣờng độ chịu n n của bê tông là khả năng chịu ứng suất n n của mẫu bê tông. Mẫu có thể chế tạo b ng các cách khác nhau: lấy hỗn hợp bê tông đã đƣợc nhào trộn để đúc mẫu hoặc dùng thiết bị chuyên dùng khoan lấy mẫu từ kết cấu có sẵn.

Mẫu để đo cƣờng độ có kích thƣớc 150x150x150 mm, đƣợc thực hiện theo điều kiện chuẩn trong thời gian 28 ngày. Bê tông thông thƣờng có R = 5÷30 MPa. Bê tông có R > 40MPa là loại cƣờng độ cao. Hiện nay, ngƣời ta đã chế tạo đƣợc các loại bê tông đặc biệt có R ≥ 80MPa.

Khi bị n n, ngoài biến dạng co ngắn theo phƣơng tác dụng lực, bê tông còn bị nở ngang. Thông thƣờng chính sự nở ngang quá mức làm cho bê tông bị nứt và bị phá vỡ. Nếu hạn chế đƣợc mức độ nở ngang của bê tông có thể làm tăng khả năng chịu n n của nó. Trong thí nghiệm nếu không bôi trơn mặt tiếp xúc giữa mẫu thử và bàn n n thì tại đó sẽ xuất hiện lực ma sát có tác dụng cản trở sự nở ngang, kết quả mẫu bị phá hoại theo hình tháp đối đỉnh nhƣ hình 1.

Nếu bôi trơn mặt tiếp xúc để bê tông tự do nở ngang thì khi biến dạng ngang quá mức trong mẫu sẽ xuất hiện các vết nứt dọc và sự phá hoại xảy ra nhƣ trên hình 1. Cƣờng độ của mẫu đƣợc bôi trơn thấp hơn cƣờng độ của mẫu khối vuông có ma sát. Điều này có thể giải thích là do ma sát làm cản trở biến dạng ngang, với mẫu khối khi cạnh a tăng thì R giảm và cƣờng độ của mẫu hình trụ thấp hơn cƣờng độ của mẫu khối vuông. Sự phá hoại mẫu thử 1 – Mẫu; 3 – Ma sát; 5 – Hình tháp phá hoại 2 – Bàn máy nén; 4 – Bê tông bị p vụn; 6 – Vết nứt dọc trong mẫu.

Cư ng đ ch u uốn Cƣờng độ chịu uốn là một thông số đo cƣờng độ chịu k o của bê tông. Nó đƣợc đo trên cơ sở uốn dầm bê tông. Thông thƣờng cƣờng độ chịu uốn b ng khoảng 10-20 phần trăm cƣờng độ chịu n n của bê tông, tùy thuộc vào kích thƣớc, hình dạng của các loại cốt liệu. Tuy nhiên việc xác định mối quan hệ giữa cƣờng độ chịu uốn và cƣờng độ chịu n n của bê tông một cách chính xác nhất là thông qua việc thực hiện thí nghiệm mẫu.

Co ngót của bê tông Co ngót là hiện tƣợng bê tông giảm thể tích khi khô cứng trong không khí. Hiện tƣợng co ngót liên quan đến quá trình thủy hóa xi măng, đến sự bốc hơi lƣợng hơi nƣớc thừa khi bê tông khô cứng. Co ngót xảy ra chủ yếu trong giai đoạn khô cứng đầu tiên của bê tông. Trong điều kiện bình thƣờng, sau vài năm thì biến dạng tỉ đối do co ngót có thể đạt đến (3÷5)10-4.

Độ co ngót phát triển mạnh trong thời kỳ đầu và giảm dần theo thời gian sau đó tắt hẳn [7]. Co ngót của bê tông có mấy dạng cơ bản sau: - Hiện tƣợng tự co (Autogenous shrinkage): xảy ra do quá trình hydrat hóa của xi măng; - Co khô (Drying shrinkage): xảy ra do sự thiếu hụt độ ẩm trong bê tông trong quá trình bê tông cứng hóa; - Co ngót do quá trình các bô nát (Carbonation shrinkage): xảy ra do một vài sản phẩm của quá trình hydrat hóa tác dụng với CO2. Bê tông bị co ngót do nhiều nguyên nhân, trƣớc hết là sự mất nƣớc trong các gel đá xi măng. Khi mất nƣớc các mầm tinh thể xích lại gần nhau và đồng thời các gel cùng dịch chuyển làm cho bê tông bị co.

Quá trình cacbonat hóa hyđrôxi can xi trong 9 đá xi măng cũng là nguyên nhân gây ra co ngót, co ngót còn là hậu quả của việc giảm thể tích tuyệt đối của hệ xi măng - nƣớc. Ngoài ra độ co ngót còn phụ thuộc vào chế độ bảo dƣỡng. Khi bảo dƣỡng nhiệt ẩm độ co ngót xảy ra mạnh và nhanh chóng hơn trong điều kiện thƣờng nhƣng trị số cuối cùng lại nhỏ hơn 10 - 15%. Nhiệt độ chƣng hấp càng cao, độ co ngót cuối cùng càng nhỏ.

Sự co của mạng tinh thể bị cốt liệu cản trở gây ra ứng suất k o ban đầu trong đá xi măng. Sự co không đều trong khối bê tông hoặc co ngót bị ngăn trở làm phát sinh ứng suất k o và có thể làm bê tông bị nứt. Bê tông bị nứt làm giảm cƣờng độ, độ chống thấm trong môi trƣờng xâm thực.Vì vậy đối với những kết cấu bê tông có chiều dài và diện tích lớn, để tránh nứt ngƣời ta phân đoạn để tạo thành các khe co giãn. Để giảm co ngót cần chọn thành phần thích hợp, hạn chế lƣợng nƣớc trộn, đầm chặt bê tông, giữ cho bê tông thƣờng xuyên ẩm trong giai đoạn đầu (dƣỡng hộ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ