mở đầu tiểu thuyết là trại dưỡng lão ở Marengo cách Alger tám mươi cây số. Vụ giết người, một trong những sự kiện chính của tiểu thuyết, xảy ra trên bãi tắm ở ngoài thành Alger. Nhân vật sống ở vùng ngoại 6, phố Belcourt, trong một khu chung cư. Hoạt động của nhân vật chính ở phan I, trừ chương | và chương 6, đều diễn ra ở đây.
Thành phố của Meursault chính là nỗi buồn chán và sự bất trắc. Hình ảnh một buổi chiều tối chủ nhật ở khu phố Belcourt chứa đựng chân dung con người và cuộc sống Alger, thể hiện rõ nhất là tầng lớp trưởng giả. Bé trai "mặc áo lính thuỷ, quần ngắn dưới đầu gối”, bé gái "thắt chiếc nơ to tướng, chân đi dày đen bóng lộn”. Bà mẹ "vận chiếc áo dài màu hạt đẻ”, ông bố “đội chiếc mũ "canôchê” that một chiếc nơ to bướm, tay cầm can".
Còn thanh niên “tóc bóng nhãy, cà vạt đỏ, áo vét tông bó eo với khăn tay thêu cắm túi ngực, giày mũi bang" (5, 29). Họ dạo chơi, đến rạp chiếu bóng hay đến sân vận động. thản nhiên như mọi ngày chủ nhật trong cuộc sống ngày thường. Thành pho đó còn là khu chung cư tối tăm, là văn phòng tẻ ngất ở sở, là khu cảng nam phơi ra trong nắng thiêu, là con đường đầy 6 gà và bụi bam.
Trong con mat Meursault, đó là một nhịp sống hết sức đơn điệu và tẻ nhạt. Còn các cư dân của khu chung cư hầu như không thể có một cuộc sống bình lang. Họ luôn phải đối diện với những điều bất trắc, nếu không phải là nỗi mất mát, cô độc của lão già Salamano (và ca Meursault) thì cũng là sự va cham, quấy rối, thù địch của Raymond. Từ cuộc gặp gỡ với những con người nay, cuộc sống của Meursault chỉ thấy toàn những điều tai hai và nguy hiểm: chứng kiến nỏi buồn đau vì bị mất con chó ở Salamano, chứng Kiến vụ au da của Raymond với có bồ của han, bị toán A Rap theo dõi, tham gia vào cuộc va chạm giữa nhóm tO t bạn của Raymond với toán Ả Rập, vụ giết người trên bãi biển, bị bắt vào tù và bị kết án tử hình.
Cái tên Alger xuất hiện trong tác phẩm, theo cách gọi của Meursault, là để chỉ trung tâm thành phố. Các nơi chốn của nội thành Alger chỉ được biết đến qua hình ảnh sở cẩm, toà án, xà lim và không có gì khác ngoài những gì tồn tại bên trong bốn bức tường và bầu trời được nhìn qua khung cửa sổ. Tuy nhiên, cũng có lúc nhân vật cảm thấy gắn bó thiết tha với thành phố này, nhất là khi đến gần cái chết. Phố phường của nó được nhận biết không phải bằng mắt mà bằng tai, tức là hiện hữu qua âm thanh: “Trong bóng tối của cái nhà tù trên bánh xe của tôi, tôi thấy lại từng tiếng một, như dâng lên từ đáy nỗi mệt mỏi của tôi, tất cả âm thanh của một thành phố tôi yêu, vào một giờ nào đó mà tôi chợt cảm thấy hài lòng.
Tiếng rao bán báo trong không khí đã thư giãn. những con chim cuối cùng ở những khúc quành cao của thành phố và tiếng lao xao của bầu trời trước khi đêm ập xuống cảng. Đó như chính âm thanh đồng vọng từ đáy lòng nhân vật và chính tác giả. Chi dẫn dia lý trong Nguoi xa la rất ít và Camus cũng tả không nhiều.
Tuy nhiên, từ một vài chuyển dịch của nhân vật cũng có thể đưa lại bản phác thảo không chi tiết nhưng rõ nét: thành phố Alger, khu ngoại 6 Belcourt, bãi tắm biển ở ngoài thành Alger, "không xa trạm đỗ xe buýt", nhưng “phải đi qua một bình nguyên nhỏ trấn phía bién"(5, 62), “trai giam ở chỗ cao nhất trong thành pho"(5, 88), trại dưỡng lão ở Marengo, "cach Alger tam mươi cây số” (5, 7). Người đọc có thé gặp ở đây nhiều chi tiết trung thành với thực tế: Belcourt là khu phố bình dân nằm ở phía đông thành phố; ông lão Salamano thường dẫn con chó dạo chơi ở phố Lyon, sân vận động năm ở cuối phố này, trong khu phố Ruissau nên rất bình thường là tàu điện thường chở cầu thủ và khán gia đi qua dưới cửa s6 nhà Meursaul; Marengo cách không xa Tipassa, được đặt tên là HadJont từ thời kỳ độc lập. t CO) Thực tế Camus không có ý định tái kiến tạo thành phố trên trang sách. cũng không nhằm tô điểm những vẻ đẹp như tranh nhưng nhà văn vẫn tạo được sức sống tiềm tàng trong chiều sâu im lặng của bối cảnh.
Alger luôn là thành phố hiện thực, khác với thành phố trongVu án (F. Kafka), Bouville của Buồn nón (J-P. Sartre) và ca Oran của Dich hạch. là những thành phố trừu tượng.
Thành phố của Kafka không gợi liên tưởng về một thành phố nguyên mẫu nào vì chính nó cũng vắng mặt, chính nó cũng đánh mất tâm hồn mình, cũng nằm ngoài số phận, như K: luôn là bất thường. Bouville dù được gợi cảm hứng thực tế từ La Havre vẫn chỉ tồn tại như một cơn "buồn nôn”: Roquentin và Bouville hoà lẫn với nhau trong cùng sự suy sụp. Nó gần như không có điểm tựa nào về mặt không gian mà chỉ neo vào trục thời gian. Vì là thành phố biểu tượng nên thành phố của Kafka, Bouville của Sartre và Oran, một thành phố khác của Camus là hình ảnh của bất kỳ một thành phố nào.
Còn Alger, thành phố mặt trời và thành phố biển không lẫn vào đâu được, đó là nơi Camus và Meursaul đã từng sống và gắn bó. Mặt khác, nó là bối cảnh của Wgười xa lạ, nhưng luôn nhìn nhận theo hai mặt: thành phố thực tế và thành phố tiểu thuyết - thế giới được miêu tả bằng lời, không gian được sáng tạo ra nhờ ngôn ngữ. Bố cục Tiểu thuyết thế kỷ XX thực sự là những công trình kiến trúc nghệ thuật. Điều đáng chú ý là tiểu thuyết gia xây dựng tác phẩm của họ không theo một khuôn mẫu nào.
Vấn đề không phải là họ đặt chồng các viên gạch một cách ngẫu nhiên hay sắp xếp các tấm bê tông một cách lơ đãng. Có tác phẩm tổ chức rời rạc, đứt nối, có tác phẩm rối như mê cung. Đôi lúc không phải tác giả là người đặt ra vấn đề "kiến thiết" mà chức nang này được chuyển cho độc giả. bởi vì tác giả không thể đọc mà không tổ chức nó, không nhận ra hằng lượng của nó; nói về một văn bản cũng có nghĩa là chỉ ra cấu trúc của văn bản đó.
Lối kết cấu số học, lắp ghép, mẩu đoạn, cắt dán có thể gợi ra ý tưởng về sự đổ vỡ nằm ngay ở hình thức bề ngoài của tác phẩm, tuy nhiên cũng không thể không nói rằng chính bản thân đổ vỡ đó cũng là một hình thức, một bố cục mang tính tư duy và rất sống động. Độc giả thích khám phá tìm tòi lối đi hơn là bước ngay vào một cánh cửa mở chờ đợi sẵn. Bên cạnh đó độc giả cũng cam thấy vừa mat, hài lòng với những tác phẩm có bố cục "dep". Nguoi xa lạ của Camus là một ví dụ điển hình về tính cân đối, hài hoà.
Cuốn tiểu thuyét được chia làm hai phần với số trang tương ứng nhau: phần I gồm sáu chương dài tám tư trang, phần II gồm năm chương trải ra tám tám chương (theo L'Etranger, Folio, 1946). Việc phân chia chính xác này không gợi cho chúng ta ý nghĩ rang Nguoi xa lạ được cấu trúc theo kiểu số học như tác phẩm của R. Queneau hay theo hình thức âm nhạc như tiểu thuyết của M. Kundera, mà đó chỉ vi Camus quan tâm tới việc tổ chức tác phẩm một cách chặt chẽ, 6n định.
Theo chúng tôi, kết cấu của Wgười xa la gần với kiểu hình học đối xứng hơn. Cuốn tiểu thuyết hai phần tương ứng thu hút nhiều hướng chú ý khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã gợi mở, phân tích theo nhiều góc độ. Về thời gian trần thuật, hai phần của tiểu thuyết khác biệt nhau can bản: phần I được i) ch kể một cách đều đặn, tuần tự, chính xác, lối kể niên lịch, trong khi ở phần II thời gian không rõ ràng, nghiêng về tính thường trực hay tuần hoàn.
Về không gian, có sự đối lập bên ngoài, bên trong do thay đổi môi trường của nhân vật: phần I Meursault tự do, phần II bị cầm tù. Về nội dung xã hội, tiểu thuyết tạo ra phân biệt: nửa đầu miêu tả cuộc sống của một viên chức bình thường, nửa sau tập trung vào xã hội quan chức, luật pháp, tôn giáo. Về mặt sự kiện, ba cái chết ở đầu, giữa và cuối truyện nối kết, liên hoàn với nhau có ý nghĩa về mặt nội dung cũng như tổ chức tác phẩm. Luận văn quan tâm đến một góc độ khác: xem xét vị trí của các đoạn tả cảnh và mối liên quan giữa chúng với bố cục chung của tác phẩm.
Trong Wgười xa lạ, Camus kết hợp tả cảnh, tả chân dung và ta đồ vật, nhưng chú trọng tả cảnh nhiều hơn. Các đoạn miêu tả tập trung chủ yếu ở phần I, nhất là các chương 1,2,6, đoạn tả cảnh đáng chú ý của phần II nằm ở chương 5. Chúng tôi chú ý tới ba đoạn - là những đoạn thể hiện cảm hứng trữ tình đặc sắc nhất trong toàn bộ tác phẩm: Doan |: Trong đám tang ba mẹ, chương | của phan I Doan 2: Trong vụ giết người trên bãi biển, chương 6 của phần I Đoạn 3: Trong khi nhân vật Meursault chờ đợi ngày thi hành án của mình, chương 5 của phần II (Khái niệm đoạn chúng tôi đưa ra ở đây chỉ có tính tương đối, nói đúng ra đó phải là các nhóm đoạn. ) Trước hết, vị trí các đoạn này trả lời cho những đòi hỏi về mặt hình thức, cho yêu cầu đối xứng mà Camus đã nêu trong Sổ tay (Carnets): "Đó là một cuốn sách được sắp xếp và phong cách là.
Sự thực là nó đã được tạo dựng nên bốn hay năm lần, nhưng là để tránh đơn điệu và để có một bố cục. Y nghĩa của cuốn sách đúng là nằm ở sự tương ứng của hai phần” (Dẫn theo Fitch, 50, 124). Vi trí các đoạn tả cảnh cũng không năm ngoài ý 26 nghĩa này. Tuy nhiên, với yêu cầu đối xứng, có phải là Camus quá chăm chút đến hình thức tác phẩm không? Vậy có gì khác nhau giữa việc trang trí cho hình ảnh nhân vật trong các trường ca cổ đại với việc trang trí cho tác phẩm ở đây? Ý nghĩa của các đoạn tả cảnh vượt xa hơn thế rất nhiều.
Ba đoạn tả cảnh như ba điểm mốc định ranh giới chung, đánh dấu điểm khởi đầu, điểm nối hai phần, điểm kết mỗi phần và điểm kết tác phẩm.