ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn gây ra do vi khuẩn đa kháng ngày càng gia tăng, trong đó có các vi khuẩn Gram âm đa kháng như Acinetobacter baumannii, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, E.coli hay các vi khuẩn Gram dương như Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) [1]. Đây phần lớn là các nhiễm khuẩn nặng, tỷ lệ tử vong cao, thời gian nằm viện dài và chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân rất lớn. Tình trạng đề kháng kháng sinh (KS) và việc lạm dụng kháng sinh ngày càng nghiêm trọng và đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu. Để tăng cường sử dụng kháng sinh hợp lý và hạn chế vi khuẩn kháng thuốc, WHO đã đặc biệt khuyến nghị các quốc gia trên thế giới thực hiện Chương trình “Quản lý sử dụng kháng sinh” (Antimicrobial stewardship – AMS) [1].
Trong đó, một trong những mục tiêu chính của chương trình này là bảo tồn hiệu quả của các kháng sinh hiện có, trong đó chú trọng tới nhóm kháng sinh “dự trữ” hay còn được coi là các kháng sinh lựa chọn “cuối cùng” [2]. Tại Việt Nam, ngày 31/12/2020, Bộ Y tế cũng đã có quyết định số 5631/QĐ-BYT ban hành "Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện" thay thế quyết định 772/2016/QĐ-BYT với nhiều nội dung thay đổi quan trọng [3], sau đó ngày 11/5/2023, Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn "Sổ tay hướng dẫn thực hiện chương trình quản lý sử dụng kháng sinh dành cho bệnh viện tuyến huyện". Theo đó, đối với những kháng sinh ưu tiên cần quản lý (UTQL) cần phải xây dựng, cập nhật hướng dẫn sử dụng tại đơn vị, cũng như phải được phê duyệt phiếu và hội chẩn can thiệp bởi dược sĩ lâm sàng trước khi chỉ định sử dụng cho bệnh nhân [3]. Một số chương trình quản lý kháng sinh dự trữ đã được triển khai trên thế giới đem lại hiệu quả tích cực.
Nghiên cứu COLITIFOS tại Pháp cho thấy sau khi thực hiện can thiệp dược lâm sàng, tỷ lệ kê đơn kháng sinh dự trữ giảm đáng kể từ 29,2% xuống 6,9%, đồng thời sai sót về liều khi kê đơn giảm từ 56,2% xuống 27,6% (p=0,02) [4]. Tại Việt Nam, nhiều bệnh viện cũng đã triển khai các can thiệp như xây dựng bộ tiêu chí trong sử dụng linezolid tại Bệnh viện Thanh Nhàn [5], ứng dụng công nghệ thông tin vào duyệt phiếu sử dụng kháng sinh colistin tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 hay phê duyệt, hội chẩn các kháng sinh dự trữ trên phần mềm kê đơn của bệnh viện đại học Y 1 Dược thành phố Hồ Chí Minh [6], [7]. Các can thiệp này cho thấy hiệu quả tích cực của các biện pháp can thiệp dược lâm sàng trên thực tế điều trị. Bệnh viện A Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế Thái Nguyên với mô hình các bệnh nhiễm khuẩn tương đối phức tạp, là bệnh viện tuyến cuối của tỉnh, tình hình đề kháng kháng sinh tại bệnh viện đang được Ban quản lý sử dụng kháng sinh rất quan tâm.
Nhằm đảm bảo sử dụng hợp lý và hạn chế tình trạng tăng đề kháng, năm 2021 bệnh viện đã ban hành quy trình kê đơn, phê duyệt, cấp phát với một số kháng sinh cần ưu tiên cần quản lý – Nhóm 1 (UTQL) sau khi có quyết định 5631/2020/QĐ-BYT. Tại thời điểm trước nghiên cứu, bệnh viện vẫn chưa có các nghiên cứu tổng thể về thực trạng, hiệu quả của hoạt động phê duyệt, can thiệp dược lâm sàng trong việc sử dụng kháng sinh UTQL, đặc biệt là các kháng sinh cấp thiết như: Vancomycin, linezolid (tiêm), colistin. Trong đó việc điều trị những ca nhiễm vi khuẩn Gram âm đa kháng, nhiễm MRSA cho người bệnh đang là một trong những khó khăn mà bác sĩ lâm sàng phải đối mặt. Theo thống kê sơ bộ trên toàn bệnh viện trong năm 2022 có 69 bệnh nhân được sử dụng vancomycin, 23 bệnh nhân sử dụng colistin, 19 bệnh nhân sử dụng linezolid (tiêm) và bệnh viện cũng chưa cập nhật, bổ sung hướng dẫn sử dụng từ bản ban hành lần đầu tiên và chưa xây dựng thêm hứng dẫn của các kháng sinh UTQL khác.
Ngoài ra, tỷ lệ duyệt muộn hoặc không duyệt các kháng sinh này tại bệnh viện chiếm khoảng 32%, tỷ lệ can thiệp dược lâm sàng còn thấp… Do đó, Ban giám đốc rất ủng hộ việc cải tiến các hoạt động can thiệp dược lâm sàng lại thành 1 giải pháp tổng thể (gọi tắt là “gói can thiệp dược lâm sàng”) nhằm thúc đẩy việc sử dụng các kháng sinh UTQL an toàn, hiệu quả và hợp lý tại bệnh viện. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Triển khai can thiệp Dược lâm sàng với các kháng sinh cần ưu tiên quản lý – nhóm 1 tại bệnh viện A Thái Nguyên” với hai mục tiêu: 1. Phân tích thực trạng phê duyệt, sử dụng kháng sinh cần ưu tiên cần quản lý - Nhóm 1 (vancomycin, linezolid (tiêm) và colistin) từ tháng 7/2023 đến 12/2023 tại bệnh viện A Thái Nguyên. Phân tích kết quả triển khai gói can thiệp dược lâm sàng trong việc phê duyệt, sử dụng kháng sinh cần ưu tiên cần quản lý – Nhóm 1 (vancomycin, linezolid (tiêm) và colistin) từ tháng 4/2024 đến 9/2024 tại Bệnh viện A Thái Nguyên.
Tổng quan về chương trình quản lý sử dụng kháng sinh và kháng sinh cần ưu tiên quản lý – Nhóm 1 1. Vai trò của chương trình quản lý kháng sinh Chương trình quản lý kháng sinh (Antimicrobial stewardship - AMS) được Hội Truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) và Hội Dịch tễ Chăm sóc sức khỏe y tế Hoa Kỳ (SHE) định nghĩa là việc phối hợp thực hiện các can thiệp nhằm cải thiện và đo lường sử dụng hợp lý kháng sinh bằng cách thúc đẩy lựa chọn phác đồ kháng sinh tối ưu, trong đó bao gồm liều dùng, thời gian điều trị và đường dùng để giảm xuất hiện các chủng kháng thuốc [8], [9]. AMS bao gồm tất cả các khía cạnh của việc sử dụng kháng sinh như quyết định điều trị và lựa chọn thuốc phù hợp, với mức liều tối ưu kết hợp với giám sát bệnh nhân chặt chẽ trong thời gian sử dụng thuốc. AMS đã được chứng minh có vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ đề kháng của vi khuẩn, giảm chi phí điều trị và tối ưu hóa sử dụng kháng sinh thông qua giám sát điều trị liên tục [10].
Chương trình này đang ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong thực hành điều trị của tất cả các bệnh viện vì nguy cơ vi khuẩn đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng cùng với sự hạn chế trong việc phát triển các kháng sinh mới gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn, đặc biệt là các nhiễm khuẩn bệnh viện [11]. Trung tâm kiểm soát nhiễm khuẩn Hoa Kỳ (CDC) năm 2014 khuyến cáo 7 yếu tố cốt lõi để triển khai chương trình quản lý sử dụng kháng sinh và được cập nhật năm 2019. Theo đó 7 yếu tố cốt lõi bao gồm [12] (Hình 1. Tại Việt Nam, năm 2020, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 5631/QĐ-BYT “Hướng dẫn quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện”.
Theo đó đề cập đến 5 mục tiêu của chương trình AMS [3]: 1- Nâng cao hiệu quả điều trị bệnh nhiễm khuẩn 2- Đảm bảo an toàn, giảm thiểu các biến cố bất lợi cho người bệnh. 3- Giảm khả năng xuất hiện đề kháng của vi sinh vật gây bệnh 4- Giảm chi phí nhưng không ảnh hưởng tới chất lượng điều trị 5- Thúc đẩy chính sách sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn. Bảy yếu tố cốt lõi của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh [12] Mặc dù chương trình quản lý sử dụng kháng sinh chi tiết của từng cơ sở điều trị có thể khác nhau nhưng để đạt được thành công của chương trình này đều cần tới đội ngũ cốt lõi đa ngành gồm các bác sĩ, dược sĩ và nhà vi sinh lâm sàng được đào tạo bài bản về bệnh lý nhiễm khuẩn, đảm bảo sự đồng thuận và hỗ trợ hợp tác của Hội đồng thuốc và điều trị, Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện hoặc các đơn vị liên quan (như công nghệ thông tin, dược lâm sàng…); xây dựng được cơ chế phối hợp với đội ngũ lãnh đạo, các nhân viên y tế và các đối tác liên quan để thực hiện triệt để các mục tiêu đề ra [8], [13]. Nội dung chương trình quản lý sử dụng kháng sinh Các chiến lược can thiệp trong AMS cần thực hiện nhằm cải thiện kê đơn kháng sinh theo phân loại của Hội Thực hành và Tổ chức chăm sóc hiệu quả (Effective Practice, Organisation of Care – EPOC) bao gồm [14]: - Xác định vấn đề cần can thiệp thông qua khảo sát thực trạng sử dụng kháng sinh, mức độ kháng thuốc.
- Chiến lược thuyết phục/giáo dục: cung cấp tài liệu giáo dục; các chương trình đào tạo chuyên môn; hướng dẫn điều trị chuẩn, nhắc nhở; giám sát kê đơn và phản hồi. - Chiến lược hạn chế: báo cáo có chọn lọc về tình hình đề kháng kháng sinh, danh mục hạn chế kê đơn, yêu cầu phê duyệt đơn trước khi sử dụng, thay đổi liệu pháp điều trị, yêu cầu ngừng sử dụng thuốc. - Chiến lược quản lý: thay đổi từ lưu hồ sơ bệnh án giấy thành hồ sơ bệnh án điện tử, test xét nghiệm nhanh, hệ thống hỗ trợ ra quyết định, thành lập và áp dụng các cơ chế quản lý chất lượng. - Các hình thức can thiệp này có thể hướng tới các đối tượng là người kê đơn, người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân và cộng đồng [14].
Hiện nay, đối tượng can thiệp chính được hướng tới trong chương trình quản lý kháng sinh là các bác sĩ [14], [15]. Dược sĩ lâm sàng được xác định là thành viên cốt lõi của nhóm quản lý kháng sinh, trực tiếp tham gia xây dựng và thực hiện AMS. Tùy vào nguồn lực sẵn có và mức độ chăm sóc của bệnh viện, dược sĩ lâm sàng có thể tham gia vào các chiến lược quản lý kháng sinh như chuyển đổi kháng sinh từ đường tĩnh mạch (IV) sang đường uống (PO), đánh giá kê đơn và phản hồi, tối ưu hóa liều dùng dựa trên dược động học/dược lực học (PK/PD), xét nghiệm chẩn đoán nhanh và phê duyệt trước khi sử dụng [16]. Bằng chứng các nghiên cứu về can thiệp dược lâm sàng đã chứng minh rằng can thiệp giám sát kê đơn, phản hồi và phê duyệt đơn trước khi sử dụng là hai biện pháp can thiệp hiệu quả nhất trong quản lý kháng sinh tại bệnh viện [11].
Cả hai đều được khuyến nghị mạnh mẽ trong các hướng dẫn dựa trên bằng chứng và có thể được coi là những can thiệp “nền tảng” cho chương trình quản lý kháng sinh trong bệnh viện [11].