CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE LY HON VÀ CĂN CỨ LY HON 111. Khái quát về ly hôn. Khái niệm ly hôn Hôn nhân là quan hệ giữa vo chẳng được xc lập sau khi kết hôn, Mục đích của việc kết hôn là xc lập quan hệ vợ chẳng, cùng chung sông với nhau lâu dai, bên vững, sinh con va giáo dưỡng các con vĩ lợi ích của gia đính và xã hội. Pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta ghi nhân, tôn trong vả bảo hộ quyền tự do hôn nhân của công dân”, dim bảo xây dựng chế độ HN&GĐ theo nguyên.
tắc tự nguyện, bình đẳng giữa nam va nf, giữa vợ chẳng va các thành vién của gia đình. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến quan hệ "hôn nhân mã trong thời Icy hôn nhân (là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tôn tai trước pháp luật, tính từ khí kết hôn cho đến khí châm dứt hôn nhân) giữa vo chẳng khó tránh được những mâu thuẫn, xung đột. Trong trường hợp mâu thuẫn, xung đột giữa vợ chéng đã sâu sắc, tinh cảm yêu thương, gắn bó giữa vợ chẳng đã hét, mục đích của hôn nhân đã không thé đạt được thi ly hôn là một trong những giải pháp pháp lý làm chấm dit quan hệ vợ chẳng trước pháp luật,” vây, mất tích cực của ly hôn nhằm tao cho vợ chẳng thoát khỏi mâu thuẫn, nhiêu khi la bé tắc trong cuộc song. Tuy nhiên, ly hôn cũng để lai những hau quả tiêu cực cho gia đình va zã hội, nhất la anh hưởng đến sự bên vững của.
từng gia đình -tế bảo của x4 hội, vo chẳng 6vào khung cảnh “tan đản xẻ nghị ảnh hưởng đến sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Bởi vay, Nha nước. luôn bằng pháp luật để soát quyền tự do ly hôn của vợ chồng, kiểm soát và han chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực của ly hôn đền gia đính, xã hội và các con. Dưới chế độ zã hội chủ nghĩa, "thực ra tự do ly hôn không có 1 Eoin 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 3 Điều 36 Hiển pháp năm 2013 nghĩa là lâm tan rã những mồi liên hệ gia định ma ngược lại nó cũng cô những mỗi liền hệ đó trên những cơ sỡ dân chủ, những co sỡ duy nhất có thể có và vững chắc hơn trong một xã hội vn minh"? ‘Theo khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Ly hôn lãviệc chẩm đút quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án" "Như vay, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân.
Nêu kết hôn là hiện. tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chẳng thi ly hôn là hiện tượng bắt tình thường, là mặt trải của hôn nhân nhưng la mặt khổng thể thiêu khi quan. hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Trong trường hợp đó, ly hôn là điều cần thiét cho cả vo chẳng va xã hôi, vì nó giải phóng cho tắt cả moi người, cho cả vợ chẳng, con cai, tat cả thanh viên trong gia dinh thoát khdi xung đột, mâu thuan, bể tắc trong cuộc sống chung.
Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyên va tiếnbô, bao đâm quyên từdo hônnhân bao gồm quyển tự do kết hôn cia nam, nữ và quyển tu do ly hôn cia vợ, chẳng. Theo Luật HN&GĐ Việt Nam thi quyển yêu câu ly hôn nhằm châm đứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật 1a quyền nhân thân gắn liễn với nhân thân cia vo, chồng, chỉ có vợ hoặc chồng hay cả hai vợ chồng mới có quyển yêu cầu ly hôn (tri trường hợp theo khoản. Téa ania cơ quan duy nhất có thẩm quyển xét xử, giãi quyết ly hôn. Điều này chứng tô là việc ly hôn của vo chồng dù mang ý ngiĩa riêng tư nhưng 'phải đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan Nha nước có thẩm quyền, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi thánh viên trong gia đính, bão vệ lợi ích của xã hội và của Nhà nước.
Phan quyết ly hôn của Toa án được thể hiện dưới hai hình thức: Quyết đmh hoặc Ban án jy hôn. Nêu hai bên vợ chồng TTLH, giải quyết được với nhau tat cả các nội dung về chia tải sản chung va vé nghĩa vụ nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án công nhận ly hôn và ra quyết định dưới hình thức quyết định. công nhận thuận tinh ly hôn, nếu vợ chồng mâu thuẫn, có tranh chấp, không 1T Lénin, Về quyền dân tộc te quyết", Toàn tập, Tập 25, Nxb Tiền Bộ, Matxcova, 1980, 1335 10 thể giải quyết được hoặc một bên vơ, chẳng yêu cầu ly hôn, néu hòa giễi đoàn. ‘tu không thành thi Tòa án quyết đính đưa vụ án xét xử và ra phần quyết ly hôn.
đưới dạng ban án ly hôn. Quyết định công nhận thuận tinh ly hôn va biên ban hi nhân sự théa thuận của vợ chồng vẻ chia tải sản, về con chung có hiệu lực pháp luật, Vo, chủng không có quyển khang cáo, Viên kiểm sắt nhân dân. (VESND) không có quyển kháng nghị. Đối với Bản án sơ thẩm xử cho ly hôn của Téa án sẽ có hiệu lực sau han 15 ngày kể từ ngảy Téa án tuyên án, nêu các đương sự không kháng cáo, VKSND không kháng nghỉ.
Quyết định, Ban án cho ly hôn của Tòa an khí có hiệu lực là sự kiến pháp lý làm chấm dứt quan hệ vvg chẳng trước pháp luật 'Việc giải quyết ly hôn a tat yêu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan. Điều đó hoàn toan có lợi cho vợ chẳng, con cái và các thành viên gia đình. Theo Lê Nin: “Thực ra tự do ly Hôn huyệt Riông có ugha là lãm "kem rất lên hộ gia đùnh mà ngược lại, nó cũng cổ những mỗi liên lê đó trí những cơ số dân chit những cơ số chy nhất cô thé có và vitng chắc trong một Xã hội văn minh “1 Hiện nay, quả trình giải quyết các vụ việc ly hôn trên thựctế, việc đánh. giá thực chất mồi quan hệ hôn nhân đã tan vỡ là một vẫn dé khó khăn và phức tạp.
Trong những năm gan đây, số vu ly hôn ở nước ta ngày cảng tăng với những biểu hiện mâu thuẫn vợ chẳng rất đa dạng và phức tạp. giải quyết ly hôn chính xác, vừa bao đảm quyển tự do ly hôn của vợ chồng, vừa ‘bao đâm lợi ích của gia đính va xã hội thi đòi hôi người Thẩm phán phải nắm. vững quy định của pháp luật, diéu tra, xác minh kỹ để tim ra nguyên nhân dẫn. đến mâu thuẫn vợ chồng, tìm hiéu tâm tư tình cảm, nguyên vọng của mỗi đương, sự, xác định dién biển tâm ly của vợ chồng, đồng thời phải lưu ý đến các đặc điểm kinh té, chính tị, x4 hội tác động vào quan hệ hôn nhân trong thời điểm giải quyết ly hôn, để kết hợp đúng đắn đường lối chính sách cu thể của Dang và Nha nước đối với viếc giải quyết các loại án kiến vẻ ly hôn.
tim hiéu rổ nguyên nhên, lý do hay động cơ ly hôn thi khi quyết định cho vợ À.V1Linb(1980), Lên tointập 25,8 Tinbé,Mancova, 1 365 ul chẳng ly hôn, Tòa án phải dựa trên nội dung căn cứ ly hôn do luật định. Quyền yêu cầu ly hôn, hạn chế quyền yêu cầu ly hôn. Theo quy đính của Luật HN&GĐ năm 2014, quyển yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ chồng. Thông thường chỉ với tư cach lé vợ, chẳng mới có quyển khởi kiện yêu cấu ly hôn.
Pháp luật tôn trong và bão hô quyển yêu cầu ly hôn của vợ chồng, Vo, chồng không thé ủy quyển cho người khác để thực hiện quyền nảy. Vợ, chồng thực hiên quyền yêu cầu ly hôn thông qua Đơn. khởi kiện yêu câu Tòa án giãi quyết vuviéely hôn của vợ chẳng họ Hiện nay, xuất phát từ tinh hình thực tiễn của đời song xã hội trong các quan hệ HN&GD, với mục dich nhằm bão dém quyền, lợi ich hợp pháp của vo chẳng và gia đỉnh, Luật HN&GĐ năm 2014 đã ghi nhận một van dé mới: Theo quy định tai Khoản 2 Điều 51 thi cha, me, người thân thích khác cũng có quyền ‘yéu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khí một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thân. hoặc mắc bệnh khác ma không thể nhận thức, lâm chủ được hành vi cia mảnh, đẳng thời l nan nhân cia bao lực gia đính do chẳng, vợ của ho gây ra kam ảnh hưởng nghiêm trọng dén tính mạng, sức khöe, tinh than của họ.
Quy định mới nay so với các văn bản Luật HN&GĐ trước đây của Nhà nước ta (Luật HN&GD năm 1959, 1986, 2000) đã bao vệ tốt hon va kip thời quyên lợi của vo, chẳng trong trường hop cu thé nảy, ‘Van dé cần nghiên cứu va bỗ sung là: Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ quy. định “cha, me, người thân thích khác” có quyền yêu câu ly hôn ở trường hop cụ thể nay ma chưa quy định thứ tự ưu tiên để thực hiện quyền yêu cầu ly hôn. Bai lẽ, vợ, chồng đều có cha, mẹ, người thân thích, khi xảy ra trường hợp cu thể nay trong thực tế thì ai có quyền yêu câu ly hôn Ví dụ, người vợ mắc bệnh. tâm thân không có kha nhân thức, điều khiển hành vị và bị người chồng hành.
trung, đánh đâp, ngược đối ma cha, me, người thân thích của người vợ không có hoặc không cin ai, vay, cha, mẹ chồng, người thân thích bên người chẳng, có quyển yêu cau ly hôn để bảo vệ quyên lợi chính đáng, hợp pháp cho người vợ - người con dâu hay không? 'Việc ly hôn dẫn đền nhiễu hệ luy liên quan đến quan hệ nhân thân vả quan hệ tải sản. Tuy nhiền, Toà án giải quyết cho ly hôn dua trên cơ sở hợp tinh, hợp lý, dim bao quyển lợi chính đáng của mỗi bên, đặc biết là quyền lợi của người phụ nữ va của tré em. Chính vi vay, Luật Hôn nhân va gia đỉnh năm 2014 đã xy dựng những quy định thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, trong đỏ có các quy định về những trường hợp không được ly hôn. Thứ nhất, “Ching không có quyền yên cầu ly hôn trong trường hợp vo đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” (Khoản 3 Điển: 51 Tuất Hôn nhân và gia đình 2014) Nhu vậy, trường hợp người vo có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thi người chồng bi hạn chế quyển yêu câu xin ly hôn.
Trong trường hop nay, tòa an sẽ không thụ ly đơn xin ly hôn của người chẳng Người chồng phải đợi đến khi người vơ sinh con xong và đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được tiếp tục xin ly hôn.