Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Thông tin về loài Cẩm lai Theo Chanpaisang (1994), Shahunanu và Phanmnoda (1995) và Cole (1999) loài Cẩm lai, trong đó có loài Cẩm lai bà rịa (Dalbergia bariaensis Pierre) thường phân bố trong các kiểu rừng rậm thường xanh và rừng nửa rụng lá ở Myanma, Thái Lan, Cămpuchia, Lào và Việt Nam. Theo Chanpaisang (1994), loài Cẩm lai chịu được chế độ mưa mùa và biên độ nhiệt lớn, nhiệt độ tối cao từ 37-450C, nhiệt độ tối thấp từ 4-120C, lượng mưa bình quân 800-3.
Theo Bunyaveijchewin (1983), loài Cẩm lai sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa 1200-1600mm/năm. Nghiên cứu về đặc điểm lâm học * Về sinh thái học, sinh thái rừng Thuật ngữ sinh thái học "Ecology" bắt nguồn từ tiếng Hy-Lạp: Oikos, nghĩa là nhà hoặc là nơi sinh sống; Logos, nghĩa là môn học. Lịch sử ra đời môn sinh thái học được kể từ đầu thế kỷ 20, nhưng nguồn gốc của môn học này đã có từ rất lâu. Thế kỷ 19 được xem là thời kỳ các nhà khoa học sinh vật tích lũy những dẫn liệu về tự nhiên.
Tuy vậy, các nhà khoa học thời đó cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả lịch sử tự nhiên của các sinh vật, phương thức sống của sinh vật, nơi sinh sống và nguồn thức ăn của sinh vật, phản ứng của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường. Với những cách thức nghiên cứu 5 và mô tả như thế, có thể xem đây là giai đoạn phát triển của sinh thái cá thể. Mặc dù vậy những nghiên cứu này cũng hết sức quan trọng đối với thực tiễn. Vào khoảng giữa những năm 1920, sinh thái cá thể đã phát triển cao hơn thành sinh thái học quần thể và sinh thái học quần xã.Tensley đã trình bày khái niệm đầu tiên về hệ sinh thái.
Vili đã dùng khái niệm hệ sinh thái để chỉ "Một đơn vị tự nhiên bao gồm tập hợp các yếu tố sống và không sống, do kết quả tương tác của các yếu tố ấy tạo nên một hệ thống ổn định, tại đây có chu trình vật chất giữa thành phần sống và không sống". Theo Odum (1971), sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu cấu trúc và chức năng của tự nhiên. Krebs (1978) định nghĩa sinh thái học là khoa học về những sự tương tác ấn định sự phân bố và mật độ của các sinh vật. Sinh thái rừng nghiên cứu rừng như là một quần xã sinh vật, nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các loài cây rừng với các sinh vật khác hình thành nên quần xã và nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa các sinh vật với môi trường tự nhiên của chúng (Stephen H.spurr và Bunrton V.
Sinh thái rừng là một bộ phận của sinh thái học, là một môn sinh thái học ứng dụng. Các kết quả của nghiên cứu sinh thái rừng đem lại nhiều ý nghĩa khác nhau: - Xây dựng cơ sở khoa học lâm sinh: Đó là khoa học về gây trồng và nuôi dưỡng rừng. Trồng rừng, nuôi dưỡng rừng, khai thác và nâng cao năng suất rừng. - Phân loại các thảm thực vật rừng, lập bản đồ thảm thực vật rừng, bản đồ lập địa.
- Phân vùng sản xuất Lâm nghiệp, xác định cơ cấu cây trồng hợp lý. - Xây dựng phương thức kinh doanh rừng ổn định, lâu dài. 6 - Kết quả nghiên cứu sinh thái rừng là cơ sở khoa học để trợ giúp cho việc xác định chiến lược diệt trừ sâu bệnh và những loài gây hại khác. - Xây dựng các giải pháp bảo vệ và bảo tồn những loài cây, con quý hiếm.
- Xây dựng hệ thống các biện pháp tổng hợp để bảo vệ rừng và môi trường, phòng chống ô nhiễm môi trường. Trong lâm nghiệp, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất biện pháp tác động hợp lý và xây dựng thành các hệ thống kỹ thuật lâm sinh. Một số công trình tiêu biểu như: Rừng mưa nhiệt đới Baur (1962) [1]. Trên cơ sở nghiên cứu sinh thái rừng mưa, Geoge N.
Baur đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, không đều tuổi, các phương pháp xử lý cải thiện. * Về đặc điểm cấu trúc rừng Baur G.N (1962) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng. Trong đó đi sâu nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. [39] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm sống, tầng phiến… Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ.
Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933- 1934) đề sướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương pháp đó vẫn được sử dụng, nhưng nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo 7 hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian 3 chiều. W (1968) [43] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa đới về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc cây thân gỗ và thường có nhiều tầng.
Ông đã nhận định: “Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây” Việc nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả, và đã đưa ra hàng loạt các phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừng mưa. Các tác giả sử dụng các loại hàm khác nhau như: hàm Weibull, Meyer, Hyperbol, Poisson,… * Về đặc điểm tái sinh rừng Trên thế giới khi nghiên về tái sinh rừng các nhà khoa học tìm hiểu về “hiệu quả tái sinh rừng”. Họ đã cho rằng hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Mặt khác sự tương đồng hay khác biệt về tổ thành lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ lớn được đề cập khi nghiên cứu (Mibbreuad, 1930; Aubreville, 1938, Richards, 1933; 1939; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1976 - 1979; Rollet, 1969) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[46].
Tuy nhiên, trong nghiên cứu họ chỉ tập trung nghiên cứu các loài cây có ý nghĩa về mặt thực tiễn ở trong tổ thành cây tái sinh. Đối với rừng mưa nhiệt đới, do quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu. Cho nên phần lớn đến nay, những tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường mới chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi. 8 Nghiên cứu khả năng tái sinh rừng, Richards (1965)[43] cho rằng sau thời kỳ thứ nhất, chắc chắn vào năm đầu hay năm sau, cây mạ từ hạt giống mọc lên thường bị chết hàng loạt do thiếu chất dinh dưỡng và do thiếu ánh sáng, những cây con và cây nhỡ được sống sót lại phải trải qua một thời kỳ ức chế kéo dài đến mấy năm, thậm chí hàng chục năm do sự cạnh tranh dành lấy ánh sáng và sau đó, khi có điều kiện thuận lợi mới vươn lên, với một tốc độ sinh trưởng rất nhanh, để chiếm lấy vị trí trong tầng mà chúng sẽ là thành viên chính thức.
Tác giả cũng cho rằng: nhưng cách thức tái sinh liên tục dưới tán rừng không phải là cách tái sinh duy nhất và cách thức đó hình như chỉ thích hợp với các loài cây chịu bóng. Một số nghiên cứu điển hình về đặc điểm lâm học loài cây Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm lâm học của một số loài cây bản địa chưa được nghiên cứu một cách bài bản, các nội dung chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong một số công trình, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau: Nguyễn Bá Chất (1996) [10] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh… tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa. Trần Minh Tuấn (1997) [54] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn quốc gia Bà Vì – Hà Nội, ngoài những kết quả về đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này. Vũ Văn Cần (1997) [7] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn 9 quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố,… tác giả cũng đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi.
Nguyễn Thanh Bình (2003) [2] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang. Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N – H và N – D đều có một số đỉnh; tương quan giữa Hvn và D1.3 có dạng phương trình Logarit. Cũng tương tự như vậy, Lê Phương Triều (2003) [48] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài cây Trai lý tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Vương Hữu Nhi (2003) [35] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắk Lắk – Tây Nguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên… tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này.