CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO HƯỚNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Đặc điểm Tài chính trong các Trường Đại học công lập Tài chính của trường đại học là tổng hợp các nguồn thu chi và việc hình thành các quỹ của nhà trường nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định. Tài chính của đại học công lập có những đặc trưng cơ bản sau: * Các trường đại học công lập là đơn vị được thụ hưởng ngân sách Nhà nước (NSNN) trên cơ sở luật pháp và kinh phí được cấp theo nguyên tắc không hoàn lại nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao.
Kết quả hoạt động của các trường đại học công lập nó không được thể hiện bằng hiệu quả kinh tế mà được thể hiện bằng hiệu quả về mặt xã hội như nâng cao trình độ dân trí của một quốc gia. * Kinh phí của các trường đại học công lập chỉ được sử dụng cho mục đích đã hoạch định trước. Có nghĩa là kinh phí được cấp và chi tiêu theo dự toán được duyệt, theo từng mục đích chi cụ thể và được duyệt quyết toán ngân sách hàng năm. Đặc điểm nổi bật trong công tác quản lý các nguồn kinh phí của các trường đại học là coi trọng công tác dự toán.
Dự toán ngân sách của các đơn vị là cơ sở cho quá trình chấp hành và quyết toán ngân sách. Coi trọng việc so sánh giữa thực tế và dự toán, tăng cường kiểm tra đối với quá trình thu, chi, sử dụng nguồn kinh phí NSNN. Điều này được thể hiện qua việc thu NSNN phải thực hiện theo pháp luật và các khoản chi này chỉ được thực hiện khi có trong dự toán được duyệt. Mọi khoản chi tiêu không được nằm ngoài các mục chi theo qui định của mục lục NSNN hiện hành.
4 * Với các trường đại học công lập chưa được giao quyền tự chủ tài chính, thì tất cả các việc chi tiêu phải tuân theo định mức, chế độ qui định của Nhà nước. * Với các trường đại học công lập được giao quyền tự chủ tài chính thì có một số nội dung chi thủ trưởng đơn vị được quyền qui định định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn qui định của nhà nước căn cứ vào nguồn kinh phí của đơn vị nhưng đảm bảo chi tiêu đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. * Khoản thu học phí, lệ phí của các trường đại học công lập không vì mục đích lợi nhuận, nó mang tính bắt buộc và được đưa vào quỹ tập trung của NSNN, Nhà nước cho phép các trường đại học công lập được thu một số khoản mang tính chất sự nghiệp như học phí, lệ phí…Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp là một nội dung thu của NSNN và được qui định trong luật NSNN. Mục đích của các khoản thu này là nhằm xoá bỏ dần tình trạng bao cấp qua NSNN, giảm nguồn kinh phí cấp phát từ NSNN, trang trải thêm cho hoạt động của đơn vị, huy động sự đóng góp của các tổ chức và dân cư, không phải xuất phát từ mục đích lợi nhuận như các khoản thu của doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý Tài chính của các Trường Đại học công lập Cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học là phương thức nhà nước sử dụng công cụ tài chính tác động vào hệ thống giáo dục đại học nhằm định hướng sự phát triển của giáo dục đại học, giúp cho hệ thống này có thể hoạt động hiệu quả và đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của xã hội. Cơ chế quản lý tài chính bao gồm ba nội dung chính: cơ chế cấp quản lý ngân sách; cơ chế quản lý nguồn thu ngoài ngân sách; cơ chế quản lý chi tài chính đối với các trường đại học công lập.[16] Hiện nay, mặc dù NSNN dành cho giáo dục đại học chỉ đảm bảo trang trải một phần chi tiêu cho các hoạt động đào tạo nhưng nó vẫn giữ vai trò 5 quyết định đến sự phát triển của GDĐH nước ta. Trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, để đảm bảo sử dụng ngân sách dành cho GDĐH một cách hiệu quả cần sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau và phải có một cơ chế tài chính phù hợp. Mục đích là Nhà nước sử dụng tài chính như một công cụ đắc lực để hướng các trường đảm bảo thực hiện các mục tiêu: quy mô, chất lượng và hiệu quả; tạo môi trường cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục đào tạo, kích thích tính năng động, tính sáng tạo và giữ cho hệ thống GDĐH luôn mở và ổn định.
Trong thời gian qua, công tác quản lý tài chính ở các trường đại học công lập đã có những tác động tích cực đến quá trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách và tăng cường kiểm soát chi ngân sách, đề cao vai trò tự chủ trong quản lý tài chính ở các trường đại học công lập. Tuy nhiên, trên bước đường đổi mới công tác quản lý tài chính, các trường đại học công lập phải xây dựng và hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo quan điểm mới, khắc phục những hạn chế trong quản lý hiện nay. TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Hiểu về tự chủ tài chính Tự chủ tài chính thực chất là một cơ chế quản lý tài chính mà ở đó thủ trưởng của đơn vị được trao quyền tự chủ phát triển và mở rộng cung ứng các hoạt động dịch vụ.
Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ, về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước. Cơ chế quản lý tài chính cũng là mối quan hệ tài chính theo phân cấp: - Giữa các cơ quan đầu mối của Chính phủ là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư với các Bộ, ngành, điạ phương. 6 - Giữa Bộ chủ quản, các Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở Trung ương, giữa UBND tỉnh với các đơn vị địa phương. - Giữa các đơn vị sự nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước với các bộ phận, đơn vị dự toán trực thuộc.
Cơ chế quản lý tài chính được nêu trong Nghị định số 10/2002/ NĐ-CP là cơ chế quản lý tài chính mang tính tự chủ, thường gọi tắt là cơ chế tự chủ tài chính. Năm 2006, Nghị định 10 được thay thế bổ sung bởi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công. Cơ chế tự chủ tài chính cho phép các đơn vị sự nghiệp có thu đó phân định rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính sự nghiệp, làm thay đổi phương thức quản lý đối với đơn vị sự nghiệp. Các nội dung tự chủ tài chính bao gồm: - Các đơn vị sự nghiệp được tự chủ trong hoạt động tài chính, tự chủ khai thác các nguồn tài chính theo quy định của pháp luật, sử dụng và phân bổ nguồn tài chính chủ động bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Các đơn vị sự nghiệp được phép đầu tư mở rộng, đa dạng hoá các loại hình hoạt động sự nghiệp nhằm thu hút các nguồn thu, được thực hiện một số hoạt động kinh doanh phù hợp với chức năng nhiệm vụ, vay của các tổ chức tín dụng ngân hàng, đầu tư liên doanh liên kết nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật. Từ những quyền tự chủ như trên, cơ chế quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp thường được gọi là cơ chế tự chủ tài chính. Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, nâng cao tính tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng các dịch vụ công của đơn vị. Lợi ích của tự chủ tài chính Có thể thấy, việc trao quyền tự chủ tài chính là cú hích khiến các trường chủ động trong việc sắp xếp lại tổ chức, biên chế: hợp lý hóa các khâu trong công tác quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học; chủ động trong việc sử dụng các điều kiện cơ sở vật chất và năng lực hiện có để nâng cao chất lượng đào tạo, tạo điều kiện mở rộng các hoạt động dịch vụ nhằm tăng thu, kiếm thêm kinh phí cho đào tạo.
Các kết quả cụ thể: - Các Trường thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế và và nhân sự theo hướng tinh gọn, hiệu qủa: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, nhu cầu công việc thực tế, định mức chi tiêu biên chế và khả năng tài chính của đơn vị, thủ trưởng đơn vị chủ động tính toán, lập kế hoạch biên chế từ đó việc sử dụng lao động hiệu quả hơn. - Đa dạng hoá các loại hình hoạt động sự nghiệp: Thực hiện Nghị định số10/2002/NĐ-CP và nay là nghị định 43/2006/NĐ-CP các đơn vị sự nghiệp có thu được giao quyền tự chủ tài chính, mở rộng các hoạt động sự nghiệp theo đúng quy định Nhà nước; tạo điều kiện để các đơn vị sự nghiệp tận dụng mọi tiềm năng sẵn có như cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ giảng dạy có uy tín và chất lượng cao. Các trường đã tổ chức các hình thức đào tạo chính quy, không chính quy, đào tạo tập trung và đào tạo từ xa; một số trường Đại học lớn như Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh. tổ chức liên kết đào tạo với nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài vào mở trường lớp đào tạo hoặc gửi đi đào tạo tại nước ngoài, phát triển các dịch vụ về khoa học công nghệ… - Thực hiện tự chủ về tài chính: Các đơn vị sự nghiệp khi chuyển sang thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP & nay là nghị định 43/2006/NĐ-CP được khoán phần kinh phí ngân sách cấp, đồng thời tích cực khai thác các nguồn thu sự nghiệp từ hoạt động cung ứng dịch vụ và được chủ động sử 8 dụng các nguồn kinh phí tuỳ theo yêu cầu hoạt động của đơn vị, đảm bảo chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị tự xây dựng.