CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUAT TO TUNG LAO DONG 1. Khai quát về tố tung lao động 1. Khai niệm Trong Han Việt từ điển, học gia Đào Duy Anh có giải thích: "Tố tụng" là việc thưa kiện (procés), "tổ tụng pháp ly" là pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tung (code deprocédure)" [17, tr. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt giải thích chi tiết hơn: "Tố tụng" là vạch tội và đưa ra cửa công dé phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái" [19, tr.
Như vậy, nguồn gốc hai chữ "tố tụng" nghĩa là "việc thưa kiện ở tòa án". Trong lĩnh vực pháp luật, có thể hiểu “tố tụng” là quá trình giải quyết các vụ án, vụ kiện ở tòa án. Nói chung, các bộ luật tố tung (Code de procédure) du là Bộ luật tố tụng hình sự (Code đe procédure pesnale hoặc Code de procédure criminelle) hay Bộ luật tố tụng dân sự (Code de procédure civile) đều là những hình thức pháp luật quy định về thủ tục làm việc của các cơ quan Nhà nước và những người có liên quan khi giải quyết, xử lý một vụ án. Sách Giáo trinh Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội định nghĩa: "Tổ tụng hình sự là trình tự (quá trình) tiễn hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Tó tụng hình sự bao gom toàn bộ hoạt động cua co quan tiễn hành tô tung (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án), người tiễn hành tô tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thấm nhân dân và thu ký phiên tòa), người tham gia tô tụng (bi can, bị cáo, người bào chữa.), của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ an theo quy định cua Luật Tổ tụng hình sự" [26, tr. Còn tố tụng dân sự thì Giáo trình Luật Tổ tụng dan sự Việt Nam cũng định nghĩa: "Luật t6 _.m tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật diéu chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa tòa án, viện kiếm sát với các đương sự, những người tham gia to tụng khác trong quá trình tòa án giải quyết vụ án dan sự. Nhu vậy, có thé hiểu tố tụng lao động (TTLĐ) là tổng thể các quy trình, thủ tục có mối quan hệ chặt chẽ, liên tiếp với nhau dé thông qua đó các chủ the tiền hành tổ tụng áp dụng pháp luật, đưa ra các biện pháp cần thiết để giải quyết các tranh chấp lao động một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật và đảm bảo các quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thé tham gia quan hệ lao động. TTLD bao gồm hoạt động của các chủ thể tiễn hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như: Thâm phán, Hội thâm nhân dân, Kiểm sát viên, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng lao động, các chủ thé tham gia TTLD có các quyền và nghĩa vụ luật định khi tham gia vào quá trình tố tụng ay, ví dụ: Toa án nhân dân (TAND) có quyền quyết định về vụ việc lao động, VKSND có quyên kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng lao động, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu câu của mình là có căn cứ và hợp pháp. TTLĐ và pháp luật lao động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu như pháp luật lao động được hiểu là các quy định về những vấn đề liên quan đến việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLD), thì TTLD cũng xuất phat từ mối quan hệ giữa NLD và NSDLD về việc thuê mướn, sử dung lao động và trả lương song chỉ phát sinh khi có tranh chấp xảy ra và có nhu cầu giải quyết các tranh chấp đó. Các chủ thê tham gia trong mồi quan hệ pháp luật lao động và TTLD đều giống nhau bởi luôn hướng đến các quyền dân sự, kinh tế mà chính đối tượng của quan hệ lao động mang lại.
Tuy nhiên, còn một bộ phận chủ thể khác, tham gia quan hệ pháp luật TTLĐ lại không xuất phát từ các lợi ích đó, mà nhóm chủ thê này tiên hành các thủ tục tô tụng vì lợi ích của hai bên 2 10s đương sự (nguyên đơn và bi đơn). Do đó, so với quan hệ lao động thi mối quan hệ TTLD mang tinh chat đa dạng về chủ thé, đa dạng về quyền lợi và cứng nhắc về quy trình, thủ tục. Bởi lẽ, trong TTLĐ, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thé được đưa ra ban bạc, xem xét và giải quyết công khai, theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của TTLĐ Thứ nhất, về phạm vi, TTLĐ bao gồm quá trình giải quyết tranh chấp lao động và các yêu cầu về lao động tại TAND bắt đầu từ việc khởi kiện, khởi tố vụ án lao động, gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc lao động hay xét tinh hợp pháp của cuộc đình công đến quá trình Tòa án tiễn hành các hoạt động tô tụng và sự tham gia của các chủ thê có liên quan vảo quá trình đó.
Thứ hai, về chủ thể, TTLD bao gồm tat các các hoạt động của các chủ thé tiền hành tố tung và những người tham gia té tụng. Thứ ba, hậu quả pháp ly của quá trình TTLD là kiện hoặc không kiện, khởi tố hoặc rút quyết định khởi tố vụ án lao động, thỏa thuận hay không thỏa thuận của đương sự, hòa giải hoặc từ chối hòa giải, đồng ý hay không đồng ý với phán quyết của cơ quan tài phán. Khái quát về pháp luật tố tụng lao động 1. Khái niệm Nhu đã phân tích, TTLĐ là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vu việc lao động tại TAND theo quy định của pháp luật.
TTLĐ bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (viện kiểm sát, tòa án), người tiễn hành tố tụng (kiểm sát viên, thâm phán, hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa), người tham gia tô tụng (nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.), của cá nhân, cơ quan nhà nước khác góp phan vào việc giải quyết vụ việc lao động theo quy định của pháp luật. Nếu TTLĐ được hiểu là quá trình giải quyết vụ việc lao động tại TAND của các chủ thé có liên quan theo quy định của pháp luật, thì PLTTLĐ so Pine chính là các quy định về trình tự giải quyết vụ việc lao động dé làm căn cứ cho các chủ thế thực hiện khi tham gia vào quá trình đó. Như vậy, có thé hiểu: PLTTLD là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc lao động tại TAND dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLD, NSDLD và lợi ích chung của toàn xã hội. PLTTLĐ có mối quan hệ chặt chẽ nhưng vẫn có sự khác biệt nhất định với pháp luật lao động và pháp luật to tụng dân sự.
Đối với pháp luật lao động, cả PLTTLĐ và pháp luật lao động đều quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thé là NLD, NSDLD và chủ thé đại diện cho quyên lực Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh từ việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLD va NSDLĐ, tức là từ quan hệ lao động. Tuy nhiên, nội dung của pháp luật lao động là các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa NLD, NSDLD và Nhà nước (co quan quản lí Nhà nước về lao động) trong quá trình giao kết, thực hiện và cham dứt quan hệ lao động. Còn PLTTLD là các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phat sinh giữa NLD, NSDLĐ, các chủ thể có liên quan (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyên lợi và nghĩa vụ liên quan) và các chủ thể đại diện cho quyền lực Nhà nước (Toà án, Viện kiểm sát) trong việc giải quyết các vụ việc lao động bao gồm các TCLĐ và yêu cầu về lao động phát sinh từ quá trình giao kết, thực hiện và chấm dứt quan hệ lao động. Đối với pháp luật tố tụng dân sự, về cơ bản, nhiều quy định của pháp luật tổ tụng dân sự được áp dung chung cho PLTTLD, vi dụ: Các quy định về gửi đơn khởi kiện và thụ lý vụ án, chứng cứ và chứng minh, giải quyết vụ án dân sự tại phiên toà sơ thâm, phúc thầm, giám đốc thâm và tái thầm như thành phần Hội đồng xét xử, trình tự tiến hành phiên tòa, ra phán quyết và các nội dung về kháng cáo kháng nghị.; quy định về giải quyết việc lao động tại TAND như gửi đơn yêu câu, phiên họp giải quyết việc dân sự, ra quyết định giải quyết việc dân sự.
PLTTLĐ không được thể hiện tại các văn bản quy = (Be phạm pháp luật riêng mà được quy định chung tại các văn ban tố tung dân sự. Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTLDS) 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tô tụng dén sự; trình tự, thi tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân su); trình tự, thủ tục yêu cẩu dé Tòa án giải quyết các việc về yêu cẩu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động (sau đây gọi chung là việc dân su).; trình tự, thủ tục giải quyết vụ an dân sự, việc dan sự (sau day gọi chung là vụ việc dán sự) tại Tòa án. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh các vấn đề về mặt tố tụng trong quan hệ pháp luật dân sự, còn PLTTLD lại điều chỉnh các vấn đề về mặt tố tụng trong quan hệ pháp luật lao động.