lời mở đầu và kết luận, báo cáo gồm ba phần chính: PHẦN I: Lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm PHẦN II: Thực tế công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty X49-Bộ Quốc phòng. PHẦN III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty X49 - Bộ Quốc phòng. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Báo cáo này được hoàn thành với sự hướng dẫn nhiệt tình của các cô chú trong phòng Tài chính - Kế toán Công ty X49. Tuy nhiên, do thời gian thực tập có hạn, những nhận thức về lý luận cũng như thực tiễn còn hạn chế, do vậy báo cáo vẫn không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để báo cáo được hoàn thiện hơn. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM I. Ý NGHĨA, NỘI DUNG CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. Chi phí sản xuất a.
Khái niệm chi phí sản xuất. Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngƣời gắn liền với quá trình sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phƣơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất (lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động). Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tƣơng ứng, những chi phí này đƣợc biểu hiện bằng thƣớc đo tiền tệ.
Nhƣ vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). - Chi phí về lao động sống gồm: chi phí tiền lƣơng, tiền công, các khoản trích nộp theo quy định. - Chi phí về lao động vật hoá gồm: chi phí về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất, chi phí về năng lƣợng, chi phí khấu hao tài sản cố định. Ngoài những hoạt động có liên quan đến hoạt động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ trong các doanh nghiệp sản xuất, còn có những hoạt động kinh doanh và hoạt động khác không có tính chất sản xuất nhƣ hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý.
Để tiến hành những hoạt động này doanh nghiệp cũng cần phải chi ra những khoản chi phí tƣơng ứng là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ những chi phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới đƣợc coi là chi phí sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau. Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất.
Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng đƣợc phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Sau đây là một số tiêu thức phân loại phổ biến. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí (theo nội dung kinh tế ) Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt công dụng cụ thể hay địa điểm phát sinh của chi phí đó. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ đƣợc chia làm 5 yếu tố sau: - Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
sử dụng vào hoạt động sản xuất trong kỳ (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). + Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). - Yếu tố chi phí nhân công và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lƣơng và phụ cấp mang tính chất lƣơng phải trả cho toàn bộ công nhân trực tiếp và gián tiếp sản xuất. + Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: Phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lƣơng và phụ cấp lƣơng phải trả công nhân trực tiếp và gián tiếp sản xuất.
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng vào hoạt động sản xuất trong kỳ. - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất. - Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chƣa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ. Phân loại theo yếu tố chi phí có tác dụng rất lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính.
Hơn nữa, thông tin về chi phí đƣợc cung cấp một cách cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp trong việc lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tƣ, kế hoạch quỹ lƣơng, tính toán nhu cầu vốn lƣu động cho kỳ sau. Đồng thời, cung cấp tài liệu để tính toán thu nhập quốc dân. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm: Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí đƣợc phân chia theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tƣợng.
Theo Nghị định 59/CP của Chính phủ ban hành năm 1996, giá thành sản xuất (giá thành công xƣởng) ở Việt Nam bao gồm ba khoản mục chi phí: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lƣơng, tiền công, các khoản trích nộp của công nhân trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp phải nộp theo quy định. - Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản xuất, chế biến của phân xƣởng (bộ phận kinh doanh) trực tiếp tạo ra sản phẩm và dịch vụ nhƣ: chi phí vật liệu, công cụ lao động động nhỏ, khấu hao tài sản cố định thuộc phân xƣởng (bộ phận kinh doanh); tiền lƣơng, các khoản trích nộp theo quy định của nhân viên phân xƣởng (bộ phận kinh doanh), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phát sinh ở phân xƣởng (bộ phận kinh doanh) Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức; cung cấp số liệu trong công tác tính giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau. Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành: Theo cách này, chi phí sản xuất đƣợc chia làm hai loại: - Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về lƣợng tƣơng quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lƣợng sản phẩm sản xuất trong kỳ, chẳng hạn chi phí về nguyên vật liệu, nhân công trực tiếp.
Cần lƣu ý rằng, các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định. - Chi phí bất biến (định phí): là chi phí không thay đổi về tổng số so với khối lƣợng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng, phƣơng tiện kinh doanh. Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lƣợng sản phẩm thay đổi. Cách phân loại này cho phép thấy trƣớc đƣợc sự biến đổi của chi phí khi mức độ hoạt động sản xuất thay đổi.
Do đó nó có tác dụng lớn trong quản trị kinh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh, đáp ứng cho yêu cầu lập kế hoạch kiểm soát hoặc chủ động điều tiết chi phí cho ngƣời quản lý, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định. Giá thành sản phẩm a. Khái niệm giá thành sản phẩm Quá trình sản xuất luôn luôn tồn tại hai mặt đối lập nhau nhƣng có liên quan mật thiết với nhau, đó là: các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra và kết quả sản xuất thu đƣợc - sản phẩm, công việc hoàn thành. Nhƣ vậy, doanh nghiệp phải tính đƣợc chi phí đã bỏ ra để sản xuất đƣợc sản phẩm.
Điều đó có nghĩa là phải xác định đƣợc giá thành sản phẩm. Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lƣợng công việc, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Để xác định đƣợc giá thành sản phẩm, trƣớc hết doanh nghiệp phải tập hợp đƣợc toàn bộ chi phí sản xuất chi ra trong kỳ có liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Do đó chi phí sản xuất là cơ sở để hình thành nên giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lƣợng hoạt động sản xuất, kết quả sử dụng lao động, vật tƣ, tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thƣớc đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá. Toàn bộ các chi phí sản xuất mà doanh nghiệp chi ra để sản xuất sản phẩm sẽ đƣợc bù đắp bởi số tiền thu về tiêu thụ sản phẩm.