Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Cơ sở lý luận về quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của BQLDA 1. Công trình xây dựng và tiến độ thi công công trình xây dựng 1. Khái niệm công trình xây dựng Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
“Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác"[16]. “Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình"[16]. Đặc điểm của công trình xây dựng Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước.
Hơn thế, đầu tư XDCB gắn liền với ứng dụng các công nghệ hiện đại, do đó góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất, có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng cùng với vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực XDCB. So với các ngành sản xuất khác, sản phẩm XDCB - công trình xây dựng - có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây dựng và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của ngành. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Đặc điểm của công trình xây dựng là quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn, đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng phát triển của xã hội để tránh bị lạc hậu.
Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một công trình xây dựng cần phải phù hợp với văn hóa dân tộc. Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia như tháp Effel của Pháp, tượng nữ thần tự do của Mỹ, chùa Một Cột của Việt Nam,… Chất lượng của các công trình xây dựng có tính chất đặc thù trên là điều luôn cần được lưu tâm, nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình mà còn cả sự an toàn đối với người sử dụng. -Công trình xây dựng mang tính tổng hợp, phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Các công trình xây dựng rất đa dạng nhưng lại có tính độc lập, mỗi công trình có thiết kế kỹ thuật riêng, sử dụng công nghệ riêng, dự toán riêng. Công trình phát huy hiệu quả sử dụng tại nơi xây dựng.
Những đặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng. - Thời gian thi công công trình xây dựng thường kéo dài, phụ thuộc quy mô và tính chất kỹ thuật phức tạp của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công có những công việc khác nhau, thêm vào đó, các giai đoạn thi công phần lớn được tiến hành ngoài trời nên chịu tác động lớn của các yếu tố thời tiết và môi trường. Điều này đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những yếu tố tác động này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng của nó tới tiến độ thi công.
-Công trình xây dựng là đơn chiếc và được tiêu thụ theo cách riêng. Các công trình được coi như tiêu thụ trước khi xây dựng theo giá trị dự toán hay giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của công trình xây dựng không được thể hiện rõ bởi vì công trình xây dựng là hàng hóa đặc biệt. Vai trò của công trình xây dựng trong phát triển hạ tầng cơ sở Công trình xây dựng là sản phẩm được thực hiện thông qua quá trình xây dựng cơ bản, là một nội dung chủ yếu của phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, được thực hiện sau công tác quy hoạch của vùng, miền, địa phương. Tùy vào mục tiêu chiến lược mà từng vùng, miền, địa phương đặt ra, công tác xây dựng cơ sở hạ tầng cần phải đảm bảo được các yêu cầu đề ra trong quy hoạch phát triển hạ tầng cơ sở.
Do đó, công trình xây dựng có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định bộ mặt, tính có ích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 của hệ thống cơ sở hạ tầng trong mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của vùng, miền, địa phương đó. Dựa vào tính chất, chức năng, công trình cơ sở hạ tầng được chia làm 3 loại: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở hạ tầng môi trường. + Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: là các công trình xây dựng phục vụ cho sản xuất, nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội như đường giao thông, hệ thống điện, mạng lưới thông tin liên lạc,… + Cơ sở hạ tầng xã hội: là các công trình xây dựng phục vụ công ích, cải thiện, có vai trò nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn xây dựng công trình như bệnh viện, trường học, công viên,… + Cơ sở hạ tầng môi trường: là các công trình xây dựng phục vụ mục đích bảo vệ môi trường sinh thái cũng như môi trường sống của người dân như các công trình thoát nước, xử lý nước thải, rác thải,… Các cơ sở hạ tầng là kết quả của hoạt động đầu tư phát triển nên mang trọn vẹn đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển: +Cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, hoạt động thu hồi được thực hiện trực tiếp qua vận hành công trình hoặc gián tiếp qua các hoạt động khác liên quan đến công trình. + Thời kỳ đầu tư kéo dài, tính từ khi bắt đầu khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động.
+ Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: bắt đầu từ khi công trình đi vào hoạt động đến khi hết hạn sử dụng, đào thải công trình. +Các kết quả đầu tư được phát huy và sử dụng ngay tại địa bàn xây dựng, ví dụ đường giao thông, hệ thống thoát nước, hệ thống cảng biển,… + Thời gian khê đọng vốn dài, hoạt động đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro: hầu hết các hoạt động đầu tư phát triển kéo dài từ vài năm đến vài chục năm, các rủi ro thường xảy ra khi thời gian thực hiện đầu tư bị kéo dài so với kế hoạch như thất thoát vốn đầu tư, trượt giá thiết bị, nguyên- vật liệu khiến nâng tổng mức đầu tư,… 1. Quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án 1. Khái niệm quản lý tiến độ thi công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình.
Tiến độ thi công (TĐTC) là một sơ đồ bố trí tiến trình thực hiện các hạng mục công việc nhằm xây dựng công trình theo hợp đồng thi công đã ký giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công. Kế hoạch tiến độ thi công công trình xây dựng là bản kế hoạch xác định trình Tác giả các công việc xây dựng cơ bản, thời gian thi công từng hạng mục và toàn bộ thời gian cần thiết để hoàn thành công trình xây dựng. Kế hoạch tiến độ thi công công trình xây dựng (sau đây gọi tắt là tiến độ thi công) là một loại “sơ đồ” quy định rõ trình tự bắt đầu và kết thúc thực hiện từng hạng mục công việc của một dự án hay công trình xây dựng. Bản chất của tiến độ là kế hoạch thời gian, do đó, tiến độ thi công công trình xây dựng được xem xét qua đại lượng thời gian.
Đó là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu khởi công xây dựng đến khi hoàn thiện và nghiệm thu, sử dụng công trình. Tiến độ thi công công trình được lập song song với quá trình lập tiến độ thực hiện dự án, phản ánh đầy đủ tính phức tạp của tiến trình thực hiện một dự án hay công trình xây dựng, đã xem xét một cách tổng hợp về các mặt: công nghệ - kỹ thuật, tổ chức, tài chính, hiệu quả kinh tế và vệ sinh - an toàn lao động. Vai trò của kế hoạch tiến độ thi công là rất lớn, góp phần không nhỏ thực hiện các mục tiêu của dự án“Chất lượng- Thời gian- An toàn- Hiệu quả”. Thể hiện qua các đặc điểm sau: - Việc chậm trễ trong quá trình thực hiện tiến độ sẽ ảnh hướng rất lớn đến chi phí và hiệu quả đầu tư; - Kế hoạch tiến độ là cơ sởcho công tác kiểm tra, giám sát, điều hành sản xuất và quản lý công trình xây dựng; - Kế hoạch tiến độ là định hướng, là căn cứ cho hoạt động quản lý và chỉ đạo các chủ thể tham gia thực hiện dự án; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Chủ đầu tư cần tiến độ để cân đối tổng thể kế hoạch của mình, chuẩn bị tiền vốn để đáp ứng nhu cầu của nhà thầu.