Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo công nhân kỹ thuật ở Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương. Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác đào tạo công nhân kỹ thuật ở Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương. 7 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Nội dung và phƣơng pháp đào tạo CNKT 1. Khái niệm đào tạo CNKT Đào tạo công nhân kỹ thuật là quá trình giáo dục kỹ năng kỹ xảo lao động và nhân cách con ngƣời nhằm tạo ra năng lực làm việc của họ ở một nghề hoặc chuyên môn kỹ thuật nào đó.16-17] Đào tạo CNKT đƣợc hiểu là hoạt động huấn luyện công nhân nhằm giúp cho công nhân nắm đƣợc các kiến thức, kỹ năng để có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đào tạo sẽ tạo nền tảng căn bản về kỹ năng nghề nghiệp, nó hƣớng vào cái cụ thể, hiện tại đang cần đƣợc thực hiện ngay [1, 4]. Thực chất của việc đào tạo công nhân kỹ thuật là tạo ra cho họ một nghề nào đó để họ lao động tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ bản thân và xã hội.
Quá trình học tập sẽ đƣợc diễn ra tuần tự từ kiến thức cơ bản nhất đến kiến thức liên quan đến nghề mà họ học, đảm bảo khi học xong họ sẽ có một nghề nhất định để tham gia vào lực lƣợng lao động xã hội. Việc đào tạo chỉ tạo ra cho họ những kỹ năng ở mức độ nhất định nào đó, mà xu thế của con ngƣời là không ngừng vƣơn lên trong công việc. Vì thế đào tạo công nhân kỹ thuật thƣờng đi đôi với phát triển. Phát triển chính là các hoạt động giúp cho công nhân kỹ thuật nâng cao năng lực trình độ của mình từ đó họ có thể thành công trong việc đảm nhiệm đƣợc các việc ở mức độ phức tạp cao hơn.
Vì thế phát triển là hoạt động giúp ngƣời lao động thăng tiến phát huy hết tiềm năng của mình. Để quá trình đào tạo công nhân kỹ thuật đạt hiệu quả cao thì tổ chức cần đảm bảo một số điều kiện sau: - Trƣớc khi lựa chọn đối tƣợng đào tạo phải có chƣơng trình hƣớng nghiệp, để ngƣời lao động chọn nghề học thích hợp với đặc tính, tâm lý và khả năng của họ. 8 - Lập kế hoach đào tạo một cách cụ thể rõ ràng nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội ở thời điểm hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai tức là đào tạo những nghề có triển vọng. Bảo đảm đầy đủ các trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học.
Đội ngũ giảng viên phải là ngƣời có kiến thức cao nhiều kinh nghiện có khả năng sƣ phạm, nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Nhƣ vậy ta có thể đƣa ra khái niệm đào tạo CNKT nhƣ sau: Đào tạo CNKT là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, nhân cách cho mỗi cá nhân ngƣời lao động để họ có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế. 61-62], [10] Đào tạo CNKT trong doanh nghiệp bao gồm: Đào tạo mới: Là quá trình học tập để trang bị cho ngƣời công nhân kiến thức về một nghề mới đƣợc áp dụng đối với những ngƣời mới đƣợc tuyển dụng vào doanh nghiệp mà chƣa biết nghề. Đào tạo lại: Đƣợc thực hiện đối với những ngƣời đã biết nghề song vì lý do nào đó nghề đó không còn phù hợp nữa, đƣợc áp dụng với những ngƣời chuyển đi làm công việc mới.
Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề nhằm bồi dƣỡng, bổ sung cho ngƣời công nhân kiến thức và kinh nghiệm ở mức độ cao hơn để đáp ứng công việc ngày càng phức tạp và phát triển nghề nghiệp bản thân, đƣợc áp dụng để đào tạo nâng bậc, nâng lƣơng. Sau khi đào tạo xong ngƣời CNKT sẽ có kỹ năng nghề và những hiểu biết cần thiết phù hợp để làm đƣợc những công việc phức tạp ở mức độ nhất định, nhất là độ phức tạp về kỹ thuật và công nghệ, hiểu biết về tính năng kỹ thuật cũng nhƣ có khả năng vận hành, bảo dƣỡng một số máy móc thiết bị liên quan. Không những thế ngƣời CNKT còn có thêm hiểu biết về sản phẩm của mình và góp phần sáng tạo 9 làm cho sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn, thành thạo các thao tác và phối hợp chúng sao cho hợp lý và hiệu quả, đảm bảo an toàn lao động. Nội dung đào tạo CNKT Nội dung của đào tạo công nhân kỹ thuật phải tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo.
Bao gồm những loại kiến thức cơ bản: - Kiến thức lý thuyết nghề nghiệp bao gồm những môn học cơ sở, công cụ, kiến thức nghề nghiệp và kiến thức bổ trợ. Yêu cầu lý thuyết phải cơ bản, hiện đại và phù hợp với thực tế. - Kỹ năng thực hành phải tập trung tạo ra độ thuần thục của ngƣời học ở những công việc cơ bản cần thiết ban đầu của nghề nghiệp và tạo ra các phản ứng cần thiết khi sử lý các tình huống đặt ra trong thực tế. Yêu cầu kỹ năng thực hành phải cơ bản, chuẩn mực, tiết kiệm các thao tác và động tác lao động.
- Giáo dục chính trị tƣ tƣởng và nhận thức xã hội để tạo ra đạo đức, tác phong, ý thức tổ chức kỷ luật của ngƣời lao động. - Giáo dục thể chất và quốc phòng hƣớng vào củng cố và tăng cƣờng sức khoẻ cho ngƣời lao động có thể hoàn thành công việc của mình. Để tạo ra đội ngũ công nhân kỹ thuật đông đảo có tay nghề cao thì phải kết hợp đầy đủ hai giai đoạn đào tạo sau đây: + Giai đoạn đào tạo cơ bản nghề nghiệp: là giai đoạn đào tạo lý thuyết và kỹ năng thực hành cơ bản của nghề nghiệp ở các cơ sở đào tạo chính quy. Kết thúc giai đoạn này, ngƣời học nhận đƣợc bằng tốt nghiệp nghề nghiệp do các cơ sở đào tạo cấp theo quy định của luật giáo dục.
Sau khi ra trƣờng ngƣời học có thể thực hiện đƣợc những nhiệm vụ cơ bản của nghề nghiệp. Tuỳ thuộc vào số năm, trình độ đào tạo và từng nghề mà thừa nhận cấp bậc kỹ thuật của ngƣời học. + Giai đoạn đào tạo nâng cao trình độ lành nghề là giai đoạn cung cấp kiến thức lý thuyết, kỹ năng thực hành bậc cao để ngƣời lao động có khả năng thực hiện đƣợc những công việc có mức độ phức tạp cao của nghề. Chƣơng trình nâng cao trình độ lành nghề cần phải đƣợc soạn thảo thống nhất cả nâng cao về lý thuyết, tay 10 nghề và quy định thời gian cần thiết để thực hiện.
Chƣơng trình này có thể đƣợc tổ chức thực hiện ở ngay các đơn vị sản xuất kinh doanh hoặc có thể dạy ở các cơ sở đào tạo chính quy hoặc trung tâm dạy nghề. Phương pháp đào tạo CNKT Phƣơng pháp đào tạo CNKT là cách thức ngƣời học có đƣợc kiến thức, kỹ năng nhất định khi tham gia các khoá đào tạo nhằm nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn. Mỗi phƣơng pháp đào tạo có những ƣu, nhƣợc điểm nhất định. Tuỳ theo yêu cầu và thực tế mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phƣơng pháp đào tạo thích hợp.
Sau đây là một số phƣơng pháp đang áp dụng trong các doanh nghiệp hiện nay. Đào tạo tại các trƣờng dạy nghề chính quy, trung tâm dạy nghề tại doanh nghiệp Đối với phƣơng pháp đào tạo này, các doanh nghiệp sẽ cử công nhân đến học tập ở các trƣờng dạy nghề đáp ứng nhu cầu cho doanh nghiệp. Các trƣờng chính quy thông thƣờng trực thuộc ngành thƣơng binh – xã hội, ngành giáo dục và các Bộ ngành liên quan Ƣu điểm của phƣơng pháp này là: Việc tiếp thu kiến thức sẽ nhanh chóng và dễ dàng, thuận lợi trong việc tiếp cận những vấn đề mới, chủ động giải quyết công việc. Nhƣợc điểm: Thời gian và chi phí đào tạo là khá lớn nên các doanh nghiệp chỉ áp dụng khi ngành nghề đó khá mới mẻ và phải đào tạo mới.
Phƣơng pháp này sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp có mối quan hệ hợp tác mang tính chất dài hạn với các cơ sở đào tạo. Một số doanh nghiệp có quy mô lớn có hẳn trung tâm dạy nghề hay tự tổ chức mở lớp đào tạo ngay cạnh xí nghiệp nhằm đào tạo công nhân không những đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp mà còn có thể đào tạo công nhân cho các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc có tính chất nghề nghiệp tƣơng tự. Đối tƣợng đào tạo chủ yếu là công nhân mới vào nghề hoặc đào tạo trình độ cao khi các doanh nghiệp áp dụng những nghề tƣơng đối phức tạp hoặc công việc có tính đặc thù 11 Ƣu điểm: doanh nghiệp mở các trung tâm dạy nghề thì có bộ máy quản lý gọn nhẹ, chỉ gói gọn trong doanh nghiệp, tận dụng đƣợc về mặt quy mô nên có thể giải quyết đƣợc nhu cầu cấp bách về lao động, chi phí đào tạo thấp so với cử ngƣời đi học ở các trƣờng chính quy, Nhƣợc điểm: chỉ đƣợc áp dụng trong các doanh nghiệp lớn có phƣơng tiện và thiết bị dành riêng cho công tác đào tạo và đào tạo chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp cùng ngành, có tính chất giống nhau. Hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp, tổng công ty có các trung tâm dạy nghề (theo thống kê trong số 220 trƣờng dạy nghề thì có 45 trƣờng thuộc doanh nghiệp, tổng công ty lớn).
Các cơ sở đào tạo này chủ động xây dựng chƣơng trình đào tạo cho CNKT, phù hợp với đặc điểm sản xuất cũng nhƣ công nghệ của doanh nghiệp do vậy tiết kiệm đƣợc thời gian đào tạo của ngƣời lao động, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Chƣơng trình đào tạo thƣờng chia làm hai phần lý thuyết và thực hành. Giáo viên phải kết hợp vừa giảng lý thuyết, vừa rèn kỹ năng thực hành, trong đó chủ yếu là thực hành để ngƣời công nhân có thể nắm vững kiến thức thành thạo các thao tác và sau khi tốt nghiệp có khả năng vận dụng vào thực tế.