Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật "Khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản và vấn đề phòng ngừa tội phạm" của tác giả Nguyễn Thị Nga (Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2008-2012) tiếp cận một hướng nghiên cứu chuyên sâu trong tội phạm học: nạn nhân học (victimology).

Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ thực trạng diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm tại Việt Nam, đặc biệt là nhóm tội phạm xâm phạm quyền sở hữu có tính chất chiếm đoạt như cướp tài sản và cướp giật tài sản. Trong thực tiễn và lý luận tư pháp hình sự truyền thống, các công trình nghiên cứu thường chỉ tập trung vào chủ thể người phạm tội (nguyên nhân từ nhân thân, hoàn cảnh sống của người phạm tội), trong khi khía cạnh nạn nhân ít được chú trọng hoặc chỉ được xem xét một cách thụ động như hậu quả thuần túy hay đối tượng bị tác động. Sự thiếu hụt này dẫn tới việc đánh giá chưa toàn diện nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, làm suy giảm hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa và duy trì tỷ lệ tội phạm ẩn ở mức cao. Do đó, việc nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong cơ chế phát sinh hành vi phạm tội là yêu cầu cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Cung cấp nhận thức lý luận có hệ thống về khía cạnh nạn nhân của tội phạm nói chung và khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, cướp giật tài sản nói riêng, góp phần hoàn thiện lý luận tội phạm học.
  2. Đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm cướp tài sản, cướp giật tài sản đối với các cơ quan thực thi, bảo vệ pháp luật và đối với chính bản thân nạn nhân tiềm năng.

Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng khái niệm về khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản trên cơ sở tiếp thu thành tựu khoa học nạn nhân học.
  2. Chỉ ra các đặc điểm nổi bật thuộc khía cạnh nạn nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội.
  3. Đề xuất hệ thống biện pháp phòng ngừa tội phạm lấy nạn nhân làm đối tượng trung tâm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc điểm thuộc về khía cạnh nạn nhân (hành vi của nạn nhân, đặc điểm nhân thân của nạn nhân, mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội) có tác động tới cơ chế hành vi phạm tội, giữ vai trò là nguyên nhân hoặc điều kiện của tội cướp tài sản và cướp giật tài sản.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Thực tiễn tình hình tội phạm và nạn nhân tại Việt Nam, tập trung nghiên cứu số liệu thống kê tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa bàn trọng điểm trong các giai đoạn 2003-2007, 2004-2008 và 2004-2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các học thuyết nạn nhân học quốc tế và các công trình tội phạm học trong nước:

  • Khung lý thuyết quốc tế: Học thuyết của Hans Von Hentig qua các tác phẩm công bố năm 1941, 1984 và các phân định năm 1962 về người bị thiệt hại tài sản (Geschädigten) và người bị xâm hại sức khỏe (Verletzten); các công trình của Stephen Schafer công bố năm 1960 (Restitution to victim of crime) và năm 1968 (The victim and his criminal); các nghiên cứu tại Nhật Bản của Oxamu Nacta, Tasuo Endo (1958) và Koiti Miiadzava (1966 với cuốn sách Cơ sở học thuyết nạn nhân học); quan niệm về nạn nhân là tổ chức và pháp nhân của Frits R. Paasch; học thuyết về "nạn nhân trừu tượng" của Hans Joachim Schneider (1975 trong tác phẩm Viktimologie-Wissenschaft vom Verbrechensopfer); cùng quan điểm của Haiz Zipf và Willem Hendrik Nagel.
  • Khung lý thuyết và tài liệu tại Việt Nam: Các công trình của Trần Hữu Tráng (Luận án thạc sĩ, 2000), Lê Nguyên Thanh (Luận văn thạc sĩ, 2002), Nguyễn Thị Minh Nguyệt (Khóa luận cử nhân, 2004), Lê Lý Thùy Trinh (Khóa luận cử nhân, 2011); định nghĩa nạn nhân trong Đại từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2000) và Giáo trình Tội phạm học (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004).
  • Cơ sở pháp lý: Các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), trực tiếp là Điều 133 (Tội cướp tài sản), Điều 136 (Tội cướp giật tài sản), Điểm h Khoản 1 Điều 48 (Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến thể trạng nạn nhân như phụ nữ có thai, trẻ em); các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người bị hại và nguyên đơn dân sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, bảo đảm xem xét mối tương tác giữa người phạm tội và nạn nhân trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
  • Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Phương pháp thống kê tội phạm, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu, phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình và phương pháp so sánh.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết giai đoạn 2003-2007 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Thành phố Hồ Chí Minh; số liệu thống kê tội phạm hình sự giai đoạn 2003-2007 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và 24 quận huyện; số liệu thống kê giai đoạn 2004-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; số liệu giai đoạn 2007-2008 của Tòa án nhân dân tối cao; dữ liệu thống kê giai đoạn 2004-2008 của tác giả Phạm Văn Tỉnh; và số liệu nghiên cứu xã hội học tội phạm của Wolfgang tại Hamburg (1969-1970).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận cơ bản về khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, tiêu chí phân loại và ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân:

  • Khái niệm nạn nhân và khía cạnh nạn nhân: Nạn nhân của tội phạm là cá nhân hay tổ chức chịu thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra. Trong khi đó, "khía cạnh nạn nhân của tội phạm" được định nghĩa là tổng hợp các đặc điểm của nạn nhân, các tình huống và hoàn cảnh phạm tội do chính nạn nhân tạo ra hoặc gắn liền với nạn nhân, đóng vai trò trong cơ chế của hành vi phạm tội, góp phần làm phát sinh tội phạm cụ thể gây thiệt hại cho chính họ.
  • So sánh khía cạnh nạn nhân giữa hai tội danh:
    • Điểm giống nhau: Đều hướng tới khách thể quyền sở hữu tài sản; nạn nhân thường có hành vi cẩu thả, mất cảnh giác (sơ hở khi rút tiền ngân hàng, vừa đi xe vừa dùng điện thoại, để tài sản trong giỏ xe, đeo trang sức lộ liễu, không khóa cổ xe); nhóm nạn nhân dễ tổn thương chiếm tỷ lệ cao gồm phụ nữ, người già, trẻ em, người có thể trạng yếu, hoặc người làm công việc đặc thù ban đêm (lái xe taxi, xe ôm, công nhân làm ca đêm). Nạn nhân còn thể hiện tâm lý tiêu cực sau khi bị hại như không tố giác, mê tín dị đoan ("của đi thay người"), sợ trả thù, không tin tưởng cơ quan bảo vệ pháp luật.
    • Điểm khác nhau: Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực ngay tức khắc, thường nhằm vào các gia đình có điều kiện kinh tế, cơ sở kinh doanh vàng bạc, kho bạc, nhà riêng biệt lập; nhiều trường hợp nạn nhân có hành vi tiêu cực hoặc bất hợp pháp trước đó (mua dâm, ngoại tình, đánh bạc, buôn lậu) và có thể có mối quan hệ quen biết với người phạm tội (người giúp việc, bạn quen biết). Ngược lại, tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS) mang đặc trưng công khai và nhanh chóng tẩu thoát, chủ yếu diễn ra ở nơi công cộng hoặc tuyến giao thông; thủ phạm nhắm vào tài sản hiện hữu mang theo người mà không cần tìm hiểu hoàn cảnh gia đình nạn nhân, và giữa nạn nhân với thủ phạm hầu hết là người hoàn toàn xa lạ.
  • Phân loại khía cạnh nạn nhân:
    • Theo nội dung: Hành vi của nạn nhân (sơ hở, mất cảnh giác, hoặc hành vi tiêu cực trái pháp luật/đạo đức); Đặc điểm nhân thân (giới tính, lứa tuổi, thể trạng sức khỏe, hoàn cảnh kinh tế, nghề nghiệp); Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội (quen biết hoặc không quen biết).
    • Theo mức độ tác động: Khía cạnh tác động tích cực (chủ động làm phát sinh nguyên nhân thông qua hành vi kích thích, sơ hở lớn hoặc hành vi sai trái); Khía cạnh ảnh hưởng thụ động (tạo điều kiện thuận lợi từ đặc điểm thể chất, giới tính, tuổi tác).
    • Theo lỗi của nạn nhân: Khía cạnh thể hiện lỗi (lỗi cố ý khi thực hiện hành vi vi phạm đạo đức/pháp luật như mua dâm, đánh bạc; lỗi vô ý do cẩu thả, chủ quan trong quản lý tài sản); Khía cạnh không có lỗi (yếu tố sinh học, thể chất, nghề nghiệp hợp pháp).
  • Ý nghĩa nghiên cứu: Khẳng định giá trị về mặt lý luận tội phạm học, ý nghĩa thực tiễn trong giảm thiểu chi phí điều tra xử lý, ý nghĩa hoàn thiện lập pháp hình sự (định khung, xác định tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ tại Điều 48 BLHS) và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nạn nhân trong tố tụng hình sự.

Chương 2: Khía cạnh nạn nhân của tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản ở Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng dữ liệu thực chứng và cơ chế tác động của khía cạnh nạn nhân:

  • Tình hình tội phạm và nạn nhân:
    • Nhóm tội cướp và cướp giật tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tội phạm xâm phạm sở hữu. Tác giả dẫn chứng số liệu của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2003-2007:
Tội danh (Bộ luật Hình sự) Số vụ Tỷ lệ số vụ (%) Số bị can Tỷ lệ bị can (%)
Cướp tài sản (Điều 133) 1.983 7,01% 4.136 11,75%
Cướp giật tài sản (Điều 136) 7.752 27,42% 11.338 32,24%
Trộm cắp tài sản (Điều 138) 13.689 48,42% 14.035 39,91%
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) 2.459 8,70% 2.923 8,31%
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) 1.999 7,08% 2.054 5,84%
Cưỡng đoạt tài sản (Điều 135) 307 1,09% 584 1,66%
Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137) 81 0,29% 105 0,30%
Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134) 6 0,02% 20 0,057%
Tổng cộng 28.276 100% 35.195 100%
  • Thiệt hại do tội cướp tài sản gây ra tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2003-2007 được đối chiếu theo báo cáo của Công an Thành phố Hồ Chí Minh:
Năm Tài sản thiệt hại (tỷ đồng) Tỷ trọng tài sản (%) Số người bị thương Tỷ trọng sức khỏe (%) Số người chết Tỷ trọng tính mạng (%)
2003 2,8 / 50,0 5,60% 300 / 657 45,66% 16 / 128 12,50%
2004 3,0 / 65,0 4,62% 210 / 527 39,85% 20 / 160 12,50%
2005 3,5 / 80,871 4,33% 270 / 809 33,37% 26 / 165 15,76%
2006 3,8 / 112,3 3,38% 320 / 577 55,46% 21 / 104 20,19%
2007 4,5 / 104,6 4,30% 350 / 506 69,17% 20 / 128 15,63%
Tổng cộng 17,6 / 412,771 4,26% 1.450 / 3.076 47,14% 103 / 658 15,07%
  • Vấn nạn cướp giật tài sản của người nước ngoài: Dẫn báo cáo của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, đầu năm 2012 xảy ra 56 vụ (tăng 21 vụ, tương đương tăng 60% so với cùng kỳ), tập trung 75% tại khu vực trung tâm (42 vụ), riêng Quận 1 xảy ra 34 vụ (chiếm 60,71%).
  • Đặc điểm của nạn nhân:
    • Hành vi tiêu cực: Mua dâm, quan hệ bất chính dẫn tới việc rơi vào bẫy dàn cảnh đánh ghen chiếm đoạt tài sản; đánh bạc thắng tiền bị các đối tượng thua bạc cướp lại; chiếm đoạt tài sản trước dẫn tới bị cướp trả thù (vụ Ngô Sĩ Tú bị đàn em của Hoành cướp xe máy Hayate); quen biết qua mạng internet và quan hệ đồng tính dẫn tới bị sát hại cướp tài sản (vụ đối tượng Đông và Thái cướp xe máy Attila, nhẫn vàng 18k và điện thoại của Tâm tại khu tái định cư Tân Hương ngày 27/4/2012).
    • Mối quan hệ: Dẫn chứng số liệu nghiên cứu của Wolfgang tại Hamburg (1969-1970) chỉ ra trong tội cướp tài sản, tỷ lệ không quen biết giữa thủ phạm và nạn nhân chiếm 72%. Tại Việt Nam, tính chất xa lạ này thể hiện rất rõ ở tội cướp giật trên các tuyến giao thông công cộng.
  • Vị trí, vai trò của khía cạnh nạn nhân trong cơ chế tâm lý xã hội của tội phạm: Cơ chế hành vi phạm tội gồm ba khâu liên hoàn:
    1. Khâu hình thành động cơ: Nhu cầu tiêu cực của người phạm tội gặp tình huống sơ hở từ nạn nhân (để tài sản hớ hênh, phụ nữ đi một mình) làm nảy sinh động cơ chiếm đoạt.
    2. Khâu kế hoạch hóa việc thực hiện: Người phạm tội tính toán phương thức tiếp cận, lợi dụng đặc điểm nhân thân yếu thế của nạn nhân hoặc dàn cảnh tạo lòng tin nhằm vô hiệu hóa sự tự vệ.
    3. Khâu trực tiếp thực hiện: Người phạm tội lợi dụng triệt để thời điểm nạn nhân mất cảnh giác nhất để dùng vũ lực hoặc giật nhanh tài sản rồi tẩu thoát. Trường hợp khía cạnh nạn nhân làm biến đổi tiến trình phạm tội: Nếu cơ sở kinh doanh trang bị hệ thống an ninh nghiêm ngặt (lắp camera, bảo vệ chuyên nghiệp, kính cường lực) thì có thể làm người phạm tội từ bỏ ý định ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi.
  • Dự báo tình hình tội phạm từ khía cạnh nạn nhân: Sự phát triển đô thị làm gia tăng các mục tiêu kinh tế lớn. Thống kê tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 1.513 tiệm kinh doanh vàng, bạc, đá quý; 505 chi nhánh ngân hàng; 183 điểm thu đổi ngoại tệ; 72 điểm rút tiền ATM và 06 kho bạc. Đây là những mục tiêu tiềm ẩn nguy cơ cao nếu thiếu các biện pháp bảo vệ chuyên trách, cùng với các vụ án trọng điểm tại tiệm vàng ở Bắc Giang (vụ Lê Văn Luyện) và tiệm vàng Kiệm Huyền tại Hưng Yên (tháng 5/2012).

Chương 3: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản và cướp giật tài sản từ việc nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm

Căn cứ vào danh mục mục lục và phần mở đầu của khóa luận, nội dung Chương 3 được kết cấu thành hai phần chính:

  • Cơ sở lý luận về phòng ngừa tội phạm và cơ chế tác động của các biện pháp phòng ngừa từ phía nạn nhân: Phân tích cơ chế tác động nhằm triệt tiêu các điều kiện thuận lợi và nguyên nhân xuất phát từ hành vi, lối sống sơ hở của nạn nhân tiềm năng.
  • Hệ thống giải pháp phòng ngừa cụ thể:
    • Đối với các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật: Nâng cao chất lượng tuyên truyền phương thức, thủ đoạn phạm tội; tuần tra kiểm soát tại các địa bàn trọng điểm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại để khuyến khích tố giác tội phạm.
    • Đối với bản thân các cá nhân và tổ chức sở hữu tài sản: Nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản, khắc phục tâm lý chủ quan khi tham gia giao thông hoặc giao dịch ngân hàng; lắp đặt các thiết bị an ninh kỹ thuật (hệ thống camera giám sát, kính cường lực, lực lượng bảo vệ) tại các điểm kinh doanh vàng bạc, tài chính; loại bỏ các hành vi tiêu cực lệch chuẩn xã hội để tránh rơi vào bẫy dàn cảnh cướp tài sản.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận đạt được các kết quả khoa học và đóng góp cụ thể:

  • Làm sáng tỏ các số liệu thực chứng về mức độ thiệt hại: Phân tích dữ liệu cho thấy tội cướp tài sản tuy chiếm tỷ trọng nhỏ về số vụ (7,01% tại TP.HCM giai đoạn 2003-2007) nhưng gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người, chiếm tới 47,14% tổng số người bị thương tật và 15,07% tổng số người chết do toàn bộ các tội phạm trật tự xã hội gây ra trên cùng địa bàn.
  • Xác lập mô hình lý luận về vai trò của nạn nhân trong cơ chế tâm lý xã hội: Chứng minh khía cạnh nạn nhân không chỉ giữ vai trò điều kiện hỗ trợ mà trong nhiều tình huống cụ thể (nạn nhân vi phạm đạo đức, đánh bạc, dàn cảnh mua dâm) còn đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp kích thích động cơ phạm tội.
  • Đóng góp về mặt học thuật tự nêu: Đây là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận hành vi cướp tài sản và cướp giật tài sản dưới góc độ khoa học nạn nhân học, góp phần lấp khoảng trống lý luận về nạn nhân trong tội phạm học thực nghiệm.
  • Kiến nghị hoàn thiện chính sách: Đề xuất nhà nước thành lập Trung tâm dữ liệu quốc gia về nạn nhân của tội phạm, bổ sung cơ chế bảo vệ nhân chứng, người bị hại và thiết lập quỹ hỗ trợ, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân trong pháp luật tố tụng hình sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Hệ thống thống kê tư pháp hình sự tại thời điểm nghiên cứu chưa có danh mục theo dõi chuyên biệt về các chỉ số nạn nhân và mức độ thiệt hại thực tế, tác giả phải sử dụng phương pháp giả định dựa trên số vụ xét xử (ước tính tối thiểu 205.556 nạn nhân từ 205.556 vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2007-2008).
    • Khóa luận chưa bao quát toàn bộ các tội danh xâm phạm sở hữu khác mà tập trung giới hạn vào hai tội danh có tính chất chiếm đoạt điển hình là cướp và cướp giật tài sản.
    • Tỷ lệ tội phạm ẩn đối với các hành vi cướp giật nơi công cộng còn cao, dẫn tới một số số liệu xét xử chưa phản ánh tuyệt đối quy mô thực tế của nạn nhân trong xã hội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát nạn nhân học sang các loại tội phạm phi bạo lực hoặc tội phạm xâm phạm sở hữu sử dụng công nghệ cao.
    • Nghiên cứu sâu hơn về tâm lý hậu sang chấn của nạn nhân và hoàn thiện các quy định pháp luật bồi thường nhà nước đối với nạn nhân bị xâm hại tính mạng, sức khỏe do tội phạm bạo lực gây ra.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Khóa luận là tài liệu nghiên cứu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tội phạm học; cán bộ điều tra thuộc lực lượng Công an nhân dân, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong quá trình đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; cán bộ tham mưu xây dựng chiến lược phòng chống tội phạm tại các đô thị lớn.
  • Nội dung đáng tham khảo: Khung phân loại chi tiết khía cạnh nạn nhân (Chương 1); Phân tích ba khâu của cơ chế tâm lý xã hội hành vi phạm tội gắn với tình huống nạn nhân (Chương 2); Hệ thống bảng biểu tổng hợp cơ cấu tội phạm sở hữu và mức độ thiệt hại về người và tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

  1. Khái niệm "nạn nhân của tội phạm" khác với "khía cạnh nạn nhân của tội phạm" như thế nào theo khóa luận? "Nạn nhân của tội phạm" là cá nhân hoặc tổ chức cụ thể gánh chịu những thiệt hại thực tế về tính mạng, sức khỏe, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra. Trong khi đó, "khía cạnh nạn nhân của tội phạm" là tổng hợp các đặc điểm (nhân thân, hành vi, mối quan hệ) và các tình huống, hoàn cảnh do chính nạn nhân tạo ra hoặc gắn liền với nạn nhân, đóng vai trò trong cơ chế phát sinh hành vi phạm tội, là nguyên nhân hoặc điều kiện dẫn tới việc nạn nhân bị xâm hại.

  2. Khía cạnh nạn nhân tác động như thế nào đến ba khâu trong cơ chế tâm lý xã hội của tội cướp và cướp giật tài sản? Ở khâu hình thành động cơ, sự sơ hở hoặc hành vi tiêu cực của nạn nhân kích thích lòng tham và ý định phạm tội; ở khâu kế hoạch hóa, đặc điểm thể trạng yếu thế, sự thiếu phòng bị hoặc việc không quen biết của nạn nhân giúp người phạm tội lựa chọn thủ đoạn, thời gian và phương tiện tiếp cận; ở khâu thực hiện hành vi, thời điểm nạn nhân mất cảnh giác nhất là điều kiện để thủ phạm nhanh chóng ra tay chiếm đoạt tài sản và trốn thoát.

  3. Số liệu thực chứng tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2003-2007 phản ánh mức độ nghiêm trọng về thiệt hại do tội cướp tài sản gây ra như thế nào? Trong giai đoạn 2003-2007, tội cướp tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh đã gây thiệt hại 17,6 tỷ đồng (chiếm 4,26% tổng thiệt hại tài sản), làm bị thương 1.450 người (chiếm 47,14% tổng số người bị thương) và làm chết 103 người (chiếm 15,07% tổng số người chết) do các tội phạm về trật tự xã hội trên địa bàn gây ra.

  4. Khóa luận phân loại khía cạnh nạn nhân dựa trên những căn cứ nào? Tác giả phân loại dựa trên ba căn cứ: căn cứ vào nội dung (hành vi, đặc điểm nhân thân, mối quan hệ với thủ phạm); căn cứ vào mức độ tác động trong cơ chế phạm tội (tác động tích cực đóng vai trò nguyên nhân, tác động thụ động đóng vai trò điều kiện); và căn cứ vào lỗi của nạn nhân (có lỗi cố ý/vô ý hoặc không có lỗi).

  5. Đặc điểm mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội trong tội cướp giật tài sản có điểm gì đặc thù? Trong tội cướp giật tài sản, mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân phần lớn là không quen biết (người hoàn toàn xa lạ). Người phạm tội chủ yếu hoạt động tại nơi công cộng hoặc tuyến giao thông, nhắm vào tài sản hiện hữu dễ giật lấy nhằm mục đích chiếm đoạt nhanh chóng và tẩu thoát để tránh bị nhận diện, che giấu hành vi phạm tội.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Nga đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận nạn nhân học và ứng dụng phân tích thực chứng đối với tội cướp tài sản và cướp giật tài sản tại Việt Nam. Công trình làm rõ vị trí, vai trò của khía cạnh nạn nhân trong cả ba giai đoạn của cơ chế tâm lý xã hội hành vi phạm tội thông qua các số liệu thống kê tư pháp cụ thể. Trên cơ sở đó, khóa luận xác lập luận cứ khoa học cho định hướng chuyển dịch công tác phòng ngừa tội phạm sang lấy nạn nhân tiềm năng làm đối tượng trọng tâm, đồng thời đề xuất các giải pháp kỹ thuật và pháp lý thiết thực nhằm kiềm chế tội phạm chiếm đoạt tài sản.