CHƯƠNG 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ CỦA WTO 1. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 1. Lịch sử hình thành WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2 trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, mà điển hình là Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay.
Với ý tưởng hình Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc. Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên. Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được. Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948.
Trong quá trình hoạt động của mình từ tháng 1/1948 đến tháng 1/1995, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán4 chủ yếu về thuế quan. Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX và đặc biệt từ Vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp. Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định 4 Xem thêm Phụ lục 1: Tóm tắt các vòng đàm phán của GATT Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp. Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Marốc), kết thúc Vòng đàm phán Uruguay5, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT.
Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên hợp quốc và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995. Tính đến tháng 12 năm 2003, WTO đã có 146 nước và lãnh thổ là thành viên chính thức, 26 nước và vùng lãnh thổ cùng 7 tổ chức quốc tế được hưởng quy chế quan sát viên tại WTO6. Mục đích hoạt động của WTO WTO chỉ là một thiết chế quốc tế liên quan đến các quy tắc của thương mại giữa các quốc gia. Hạt nhân của thiết chế này là các Hiệp định của WTO được các quốc gia tham gia quan hệ thương mại quốc tế xây dựng và cam kết thực hiện.
Các Hiệp định này đã 5 Xem thêm Phụ lục 2: Tóm tắt thành quả của Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) 6 Xem thêm Phụ lục 3: Danh sách thành viên chính thức và các chính phủ nước, tổ chức quốc tế được hưởng quy chế quan sát viên tại WTO Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO tạo lập một khung pháp lý vững chắc cho thương mại đa biên, là khuôn khổ ràng buộc chính phủ các nước duy trì chính sách thương mại của mình phù hợp với kỷ cương đã được định lập. Cho dù các Hiệp định đó do chính phủ các nước đàm phán và ký kết với nhau, nhưng đích cuối cùng của chúng là trợ giúp các nhà sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ, các nhà xuất khẩu và nhập khẩu trong điều chỉnh các hành vi thương mại, kinh doanh của họ. WTO có 3 mục đích cơ bản sau: Thứ nhất, giúp cho dòng thương mại càng tự do được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Để làm được như vậy, người ta cố gắng để mọi cái có thể rõ ràng mà không trừu tượng, có thể nhận biết và dự báo trước được.
Điều đó có nghĩa WTO phải phấn đấu để bảo đảm cho các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ các nước hiểu rằng các quy tắc thương mại là thống nhất trên toàn thế giới và không một nước nào được đột nhiên thay đổi chính sách thương mại mà không một cá nhân, tổ chức của nước khác biết trước. Nói một cách khác là các quy tắc thương mại phải “trong sáng, rõ ràng” và có thể lường trước được mọi thay đổi. Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO Thứ hai, thực hiện chức năng của trung tâm dàn xếp, thương lượng và thoả thuận các chính sách, quy tắc thương mại đa biên. Thứ ba, trung tâm để giải quyết các bất đồng, các tranh chấp phát sinh trong quá trình hoạt động thương mại quốc tế.
Các nguyên tắc cơ bản của WTO7 Hệ thống các hiệp định của WTO khá lớn và đồng bộ, bao quát cả một phạm vi rộng lớn các hoạt động thương mại. Các hiệp định đó liên quan đến nông nghiệp, hàng dệt may, ngân hàng, vô tuyến viễn thông, mua sắm của chính phủ, các tiêu chuẩn công nghiệp, đến sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác. Tuy vậy, các nguyên tắc cơ bản, các nguyên tắc nền tảng của WTO xuyên suốt toàn bộ các hiệp định. Các nguyên tắc đó là cơ sở của hệ thống thương mại đa biên.
Có thể nêu lên một số nguyên tắc cơ bản sau đây của WTO: 1. Thương mại không phân biệt đối xử Thương mại thế giới phải được thực hiện một cách công bằng, không có sự phân biệt đối xử, với nội dung sau: 7 Xem thêm Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế, Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, NXB CTQG, 2000, trang 18-24 và Thông tin khoa học pháp lý Chuyên đề về: ASEAN, APEC, WTO - Một số vấn đề pháp lý về tổ chức và hợp tác, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 10/1998, trang 46-51 Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO Các nước thành viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), tức là chế độ đãi ngộ ở các lĩnh vực mình dành cho hàng hoá của một nước bạn hàng này tới mức nào thì cũng phải dành cho hàng hoá của các nước bạn khác chế độ đãi ngộ như vậy, bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử nào. Các nước thành viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ Đối xử quốc gia (NT), tức là chế độ không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước, khi hàng nhập khẩu được đưa vào thị trường trong nước. Các quốc gia có chính sách đối xử như thế nào đối với hàng hoá sản xuất trong nước thì cũng phải đối xử như vậy đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên WTO.
Chế độ MFN và chế độ NT chủ yếu dành cho hàng hoá khi áp dụng các chính sách ở lĩnh vực thuế quan, phi thuế quan, thanh toán, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm… cả trong thương mại đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ, và đều có những trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, hiện nay cộng đồng quốc tế đang tích cực vận động để mở rộng chế độ MFN, NT đối với cả thương nhân, nhất là trong lĩnh Hoàng Anh Tuấn - Anh 9 - K38C – KTNT SVDTU.net 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoàn thiện pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO vực đầu tư, thương mại dịch vụ và các thể nhân trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nguyên tắc tự do hoá thương mại Xu thế chung của các quốc gia là luôn luôn xác định thương mại là yếu tố mang tính quyết định hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước, trong đó thị trường là động lực chính của tăng trưởng kinh tế.