Mở đầu - Chƣơng 1: Cải cách thể chế kinh tế - Chƣơng 2: Cải cách trong lĩnh vực giáo dục, khoa học kỹ thuật, an sinh xã hội và mở cửa đối ngoại - Chƣơng 3: Đánh giá quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Tây- bài học Việt Nam có thể tham khảo + Kết luận Ngoài ra luận văn còn có phần phụ lục, phần danh mục các tài liệu tham khảo giới thiệu tên sách, báo, tạp chí sắp xếp theo thứ tự chữ cái A, B, C. Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn các quý cơ quan, văn phòng, thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện Viện Nghiên cứu Trung Quốc, thư viện Học viện dân tộc Quảng Tây Trung Quốc đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi thu thập tài liệu được thuận lợi. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô giáo trong khoa Quốc tế học, các thầy cô tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc của nhà trường, TS. Ngô Viễn Phú(Giảng viên Học viện dân tộc Quảng Tây-Trung Quốc) cùng bè bạn trong và ngoài nước đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới PGS. TS Đỗ Tiến Sâm-Viện trưởng Viện nghiên cứu Trung Quốc, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình bản luận văn được thực hiện và hoàn thiện. Tuy nhiên do trình độ học viên còn hạn chế cùng với những khó khăn về nguồn tư liệu và thời gian nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong quý thầy cô, bạn bè góp ý kiến xây dựng để bản luận văn hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ! Hà nội tháng 10 năm 2008 Học viên thực hiện Đồng Xuân Khanh 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH QUẢNG TÂY Vị trí tỉnh Quảng Tây trong phân giới địa chính của Trung Quốc: Quảng Tây Nguồn: www.com/map/china-provincial-map/guangxi-map.htm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ Sau hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 3 khoá 11 năm 1978 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng với cả nước, Quảng Tây đã giải phóng tư tưởng, mạnh bạo đi vào thực tiễn, khôi phục và xây dựng các chế độ sản xuất khác nhau phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương. Quảng Tây tiến hành ngay công cuộc cải cách thể chế kinh tế trong đó lấy cải cách thể chế kinh tế ở nông thôn và thành thị làm trọng tâm của cải cách.1 Cải cách thể chế kinh tế nông thôn Nhà cải cách Đặng Tiểu Bình đã đề xuất ra hai tư tưởng lớn đối với công cuộc cải cách thể chế kinh tế nông thôn ở Trung Quốc: Thứ nhất, tư tưởng bãi bỏ công xã nhân dân, lấy cơ chế trách nhiệm khoán sản lượng tới hộ gia đình làm chủ; Thứ hai, yêu cầu sớm thích ứng và nắm bắt được những tiến bộ về khoa học trồng trọt và xã hội hoá sản xuất, phát triển quy mô kinh doanh phù hợp với từng vùng miền khác nhau, đẩy mạnh công tác phát triển kinh tế tập thể. Để phát huy và thực hiện có hiệu quả phương hướng chỉ đạo đó, đòi hỏi các ban ngành có liên quan phải kiên định và giữ vững lập trường tư tưởng cùng tiến lên phía trước. Cải cách thể chế kinh tế nông thôn ở Quảng Tây không nằm ngoài nội dung tư tưởng chỉ đạo chung đó.1 Cải cách và hoàn thiện thể chế kinh doanh hai tầng a- Thực hiện khoán sản lượng và khoán công việc tới hộ gia đình Sau khi tiến hành khảo sát và nhận thấy phương thức khoán sản lượng tới hộ và công việc tới hộ là chế độ quản lý kinh doanh kinh tế tập thể nông thôn không những phù hợp với vùng núi nói riêng mà còn phù hợp với các vùng nông thôn Quảng Tây nói chung.
Quảng Tây đã linh hoạt và tích cực đẩy mạnh chế độ sản xuất tính thù lao gắn với sản lượng, trong đó có chế độ “khoán chuyên, tính thù lao gắn với sản lượng”, chế độ “thống nhất kinh doanh, gắn sản lượng với lao động” và “khoán sản lượng tới hộ”(bao gồm cả “khoán công việc tới hộ”) tới các địa phương, vùng miền trong khu. Những khu vực thực hiện chế độ sản xuất này, nhìn chung được nhân dân đồng tình 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hưởng ứng và đạt được hiệu quả tăng rõ rệt. Một số khu vực kinh tế lac hậu như vùng đồi núi, xa xôi hẻo lánh, đời sống nông dân khó khăn từ lâu nay sau khi thực hiện chế độ sản xuất “khoán sản lượng đến hộ”, hiệu quả kinh tế tăng rất rõ nét, bên cạnh đó là việc thực hiện các chính sách kinh tế nông thôn như sử dụng biện pháp nâng cao gía nông sản của nhà nước, vì vậy mà bộ mặt nông thôn đã có những chuyển biến lớn, thay đổi cơ bản tình trạng “ba dựa vào”(sản xuất dựa vào vốn vay; ăn gạo dựa vào bán lại; sống dựa vào cứu trợ). Đến cuối năm 1981, số đội sản xuất thực hiện “khoán sản lượng tới hộ” và “khoán công việc tới hộ” đã đạt 62.4% tổng số đội sản xuất, giữa năm 1982 đạt 96.
Năm 1982 và 1983, sản lượng lương thực Quảng Tây đã đạt được những thành quả vượt bậc, đặc biệt trong năm 1982 đạt tới 203.7 vạn tấn, đánh dấu năm tăng trưởng lương thực lớn nhất của Quảng Tây kể từ sau giải phóng. Bên cạnh đó cũng kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế khác như chăn nuôi, thuỷ hải sản và các nghề phụ…. Từ năm 1983, toàn bộ Quảng Tây đã tiến hành cơ chế khoán, mở rộng các hộ chuyên để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế nông thôn. Năm 1993, đã có trên 770 vạn hộ nông dân đã trở thành các nhà sản xuất độc lập, tính tích cực trong sản xuất được đề cao, thu nhập của nhân dân không ngừng tăng lên, đời sống sinh hoạt của người dân được cải thiện, đã xuất hiện những thay đổi lớn về nhiều mặt trong đời sống kinh tế và xã hội: - Thu nhập kinh doanh của hộ gia đình đã chiếm trên 60% tổng thu nhập kinh tế nông thôn.
Năm 1993, tổng thu nhập kinh doanh của các hộ gia đình là 50 tỷ 881 triệu NDT, chiếm 66,1% tổng thu nhập kinh tế nông thôn, trong đó thu nhập sản nghiệp loại 1 là 33 tỷ 794 triệu NDT chiếm 66.41% tổng thu nhập kinh tế nông thôn toàn khu, thu nhập sản nghiệp loại 2 là 8 tỷ 429 triệu NDT chiếm 16.56%, thu nhập khác là 8 tỷ 658 triệu NDT, chiếm 17. Năm 2002 thu nhập tài chính toàn tỉnh đạt 30 tỷ 551 triệu NDT, năm 2004 vượt ngưỡng 40 tỷ NDT. Giai đoạn từ năm 2003 đến 2007 đạt 249 tỷ 300 triệu NDT. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Sự chênh lệnh thu nhập giữa các hộ gia đình và khu vực là khá lớn, năm 1993, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn toàn khu chưa đạt được mức 500 NDT có 316 hương trấn, 143.8 vạn hộ gia đình, 647.3 vạn người.
Năm 2003, 2004, 2005 thu nhập bình quân đầu người ở thành thị lần lượt đạt 7.917 NDT, trong khi đó thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn lần lượt là 2. Mức tăng trưởng thu nhập kinh doanh ở khu vực nông thôn vẫn còn có khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị. Nguồn: http://www.cn - Vốn sản xuất cố định của các hộ nông dân tăng trưởng khá nhanh, song vẫn ở mức độ chưa cao. Năm 1993, nguồn vốn sản xuất cố định tự có của các hộ nông dân đạt 7 tỷ 824 triệu NDT, mức bình quân của hộ nông dân vào khoảng 1.010 NDT, so với năm 1980, thời kỳ đầu thực hiện chế độ khoán công việc, khoán sản lượng tới hộ có sự tăng trưởng nổi bật, tuy vậy vẫn còn ở mức độ trung bình thấp, phần lớn do các hộ nông dân chỉ dựa vào công cụ lao động thô sơ và giản đơn.
Năm 2003, 2004 và 2005 vốn sản xuất cố định xã hội của tỉnh duy trì ổn định và tăng trưởng rất nhanh, lần lượt các năm này là 98 tỷ 731 triệu NDT, 126 tỷ 365 triệu NDT và 176 tỷ 907 triệu NDT, mức tăng trưởng trung bình hàng năm đạt trên 30%. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -Kết cấu sản xuất của các hộ nông dân có những thay đổi lớn, sản xuất và kinh doanh tương đối phổ biến ở mỗi gia đình nhưng tính chất quy mô còn nhỏ và hạn chế. Về cơ bản, Quảng Tây đã thực hiện tốt chế độ khoán sản lượng, khoán công việc tới hộ, luôn duy trì tốt và ổn định, từng bước cải thiện được tình hình kinh tế của hộ gia đình. Từ năm 1993, tổng thu nhập kinh doanh hộ gia đình và tỷ trọng sản nghiệp loại 2, loại 3 đã bắt đầu tăng cao, tỷ trọng ngành nghề trồng trọt giảm đi, nghề chăn nuôi, nghề phụ tăng.
-Chuyên nghiệp hóa nông nghiệp: Theo sự phát triển của thương nghiệp và của nền kinh tế thị trường, có nhiều hộ chuyên liên kết lại và cạnh tranh thị trường, từng bước hình thành nên nhiều kiểu hợp tác kinh doanh chuyên nghiệp. Năm 1993, toàn khu có 3427 hội chuyên các loại, bao gồm hơn 8 vạn hộ nông dân b-Phát triển và thiết lập kinh tế hợp tác xã Theo tình hình cụ thể của Quảng Tây, hợp tác xã(tổ chức kinh tế hợp tác mang tính khu, xã) bao gồm tổ chức kinh tế hợp tác hương, thôn, tổ chức kinh tế hợp tác thôn để thiết lập thành đơn vị tổ chức kinh tế hợp tác xã nông thôn vận hành theo quy định của hợp tác xã. Theo báo cáo thống kê năm 1997, toàn khu đã thiết lập được 210.303 tổ chức kinh tế hợp tác xã, bao gồm 276.701 đội sản xuất, chiếm 92,7% tổng số đội sản xuất cũ, trong đó lấy đội sản xuất cũ làm nền móng thiết lập hợp tác xã có 177698 đơn vị, chiếm 84,4%, lấy thôn(liên đội) làm nền móng thiết lập hợp tác xã có 26158 đơn vị, chiếm 12,4%. Việc thiết lập tổ chức kinh tế hợp tác xã bước đầu đã mang lại hiệu quả nhất định, phát huy được tác dụng của một số mặt quan trọng, chủ yếu là xoay quanh việc kinh doanh sản xuất của quần chúng xã viên trong xã, khu và đất đai công hữu.
Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực đạt được từ việc hoạt động theo mô thức phát triển hợp tác xã, cũng còn tồn tại một số điểm hạn chế như vấn đề cơ cấu tổ chức, chế độ quản lý bộ máy hoạt động của một số hợp tác xã chưa kiện toàn và hoàn thiện, các thủ tục hành chính còn phức tạp, đặc biệt là chưa xác lập rõ ràng các thể chế, quy định thực hiện pháp luật.