CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN ĐỔI TẠI CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THUỘC HỆ THỐNG CỔ ĐIỂN 1. Lý thuyết chung về phương thức chuyển đổi kinh tế 1. Mục tiêu và giới hạn của chuyển đổi kinh tế Định nghĩa “chuyển đổi” Về mặt định nghĩa, chuyển đổi (transformation) được hiểu là một quá trình chuyển biến từ thể chế kinh tế kế hoạch của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển sang thể chế kinh tế thị trường [24].
Tuy nhiên, định nghĩa một cách nghiêm mật hơn, “chuyển đổi” là một dạng thay đổi thể chế (institution change) nảy sinh trong lòng một xã hội cụ thể với mục đích là thay đổi các quy tắc, luật chơi (rule) cũ; với ba chức năng (i) khích lệ, (ii) phân bổ lại nguồn lực và (iii) phân phối lại lợi ích, việc thay đổi luật chơi trong quá trình chuyển đổi có thể dẫn đến sự thay đổi hiệu quả của ba chức năng này, từ đó thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển của kinh tế trong dạng thiết lập thể chế (institution arrangement) mới [57]. Cụm từ “chuyển đổi kinh tế” có thể gây nên những hiểu nhầm đối với nhiều người – kể cả các nhà kinh tế. Sự hiểu lầm này cho rằng chuyển đổi chỉ là các vấn đề về chính sách mang tính ngắn hạn với thời gian vài ba năm, nên “chuyển đổi kinh tế” đôi khi bị lầm lẫn với các chính sách “ổn định kinh tế”. Sự hiểu lầm thứ hai cho rằng “chuyển đổi” kinh tế sẽ đưa một nước xã hội chủ nghĩa trở thành một quốc gia theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa.
Trên thực tế, không ai có thể xác định được thời gian tiến hành chuyển đổi cũng như thể chế chính trị có thể xuất hiện sau khi chuyển đổi. Điều chắc chắn là là chuyển đổi kinh tế đem đến những chuyển biến lón, và thay đổi về chất rõ nét hơn so với một quá trình ổn định kinh tế vốn chỉ mang tính điều chỉnh cục bộ. Mục tiêu và giới hạn của chuyển đổi kinh tế 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với những điều kiện chuyển đổi xác định cho trước, việc đưa một nền kinh tế chuyển đổi thuận lợi từ một thể chế kinh tế này sang một thể chế kinh tế khác thông thường bao gồm một số nhiệm vụ. Thứ nhất, chuyển đổi kinh tế có nhiệm vụ đưa vào giá so sánh có tính co giãn đồng thời tạo lập một thị trường cạnh tranh mở cửa với thế giới để nhằm sửa chữa những khuyết tật của nền kinh tế kế hoạch trước đây, từ đó cải thiện hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực.
Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô, đây là nhiệm vụ thiết yếu nhằm giúp cho hệ thống giá cả vừa quay trở lại có thể vận hành một cách bình thường. Thứ ba, cung cấp cơ chế khích lệ hiệu quả hơn và một hệ thống quản trị công ty hữu hiệu cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tiến hành cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa. Điều này nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp phản ứng hữu hiệu hơn với thị trường. Thứ tư, tạo lập lại hệ thống cơ quan chính phủ đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường.
Hai yêu cầu cơ bản của thị trường đối với sự tồn tại của chính phủ là: (i) chính phủ phải đảm bảo tôn trọng và bảo vệ quyền tài sản cá nhân; (ii) chính phủ cung cấp hàng hóa công là nền chính trị và các thể chế khác một cách ổn định. Mặc dù các nhà kinh tế có sự thống nhất tương đối cao về các mục tiêu cần ưu tiên nêu trên của quá trình chuyển đổi, nhưng quá trình này hẳn nhiên cũng đối diện với những ràng buộc/hạn chế trong khi thực hiện. Trước hết, ở tầng nấc chung và tầng nấc cá biệt, sự bất trắc (uncertainty)/tính không thể biết trước của kết quả là một đặc trưng của quá trình chuyển đổi kinh tế. Trong rất nhiều nghiên cứu chính sách về quá trình chuyển đổi kinh tế, đều ẩn chứa tư duy về một mục tiêu đã được giới định rõ rệt.
Tuy nhiên, xét một cách khách quan, phải thừa nhận rằng các nền kinh tế chuyển đổi không nhất thiết đều hướng đến việc trở thành một trong các mô hình của chủ nghĩa tư bản hoặc thậm chí không hoàn toàn trở thành một nền 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế thị trường. Tranh luận của các nhà kinh tế về vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường đã chuyển biến một cách nhanh chóng và tự nhiên thành tranh luận về vai trò của chính phủ trong chuyển đổi kinh tế. Quan trọng hơn cả, cho dù quá trình chuyển đổi có một mục tiêu rõ ràng thì cũng chưa có lý thuyết nào được thừa nhận rộng rãi có thể chỉ ra làm thế nào để đạt được mục tiêu đó. Vì thế, kết quả của chuyển đổi là một sự bất định ngay cả khi các quốc gia chuyển đổi đã tiến hành quá trình này được hơn cả chục năm.
Chẳng hạn, trong khi Ba Lan có thể tiến hành chuyển đổi tương đối thuận lợi thì nhiều nước Đông – Trung Âu khác không những không phục hồi được mà còn ngày càng lún sâu vào suy thoái. Với tư cách là kết quả của chuyển đổi, mức thu nhập của Nga nhiều khả năng sẽ chịu sự tác động mang tính lâu dài. Tiếp theo, giới hạn thứ hai của quá trình chuyển đổi có liên quan mật thiết đến tính bổ sung và tác động qua lại của các chương trình cải cách khác. Việc chỉ tập trung vào một chương trình cải cách chuyên biệt nào đó có thể làm chúng ta nhìn sai về toàn cảnh của chuyển đổi.
Chẳng hạn, giữa các chương trình tư nhân hóa và tự do hóa giá cả có tồn tại quan hệ bổ trợ lẫn nhau rất rõ ràng. Sự kích thích của các khoản lợi nhuận do thị trường bị bóp méo tạo ra đã dẫn đến việc phân bổ tài nguyên không hợp lí, nếu doanh nghiệp không đối mặt với cơ chế khích lệ là lấy tối đa hóa giá trị làm mục tiêu phát triển của mình, thì việc chỉ tự do hóa giá cả vẫn không thể giúp cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trong hoàn cảnh thực hiện hoặc chưa thực hiện tự do hóa giá cả, việc ổn định kinh tế vĩ mô cũng cần lựa chọn nhiều cách thức khác nhau. Hầu như tất cả các nhà kinh tế đều đồng tình với tính bổ sung, bổ trợ cho nhau của các cải cách nhưng quan điểm của họ về hàm ý của sự bổ trợ này không hẳn đều giống nhau.
Có nhà kinh tế cho rằng, sự bổ trợ, bổ sung này là chứng cứ rõ ràng nhất cho tính chuẩn xác của các phương án chuyển đổi theo liệu pháp shock. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cuối cùng, sự ràng buộc của thể chế chính trị, hoàn cảnh chính trị, môi trường chính trị là sự hạn chế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xem xét một quá trình chuyển đổi kinh tế. Điều này là do kể cả khi tiến hành chuyển đổi kinh tế cải thiện phúc lợi cho đa số người thì vẫn có những nhóm người chịu thiệt hại về lợi ích. Đối với những nước Đông Âu, sự ràng buộc về các điều kiện chính trị có thể tác động mạnh tới chuyển đổi kinh tế càng được thể hiện rõ nét do tại đây đã diễn ra quá trình dân chủ hóa (chuyển đổi về chính trị) trước khi chuyển đổi về kinh tế.
Sự ràng buộc về chính trị rất quan trọng kể cả là trước hay sau khi thuyết phục người dân ủng hộ một chương trình cải cách nào đó. Tốc độ và trình tự của chuyển đổi kinh tế Các tranh luận về chuyển đổi kinh tế ở các quốc gia thường xoay quanh hai quan điểm đối lập: một số nước chuyển đổi ngay lập tức (tiến hành chuyển đổi shock/big-bang) trong khi đó một số nước chuyển đổi từng phần. Tuy nhiên, cách gọi chuyển đổi shock hay từng bước mới chỉ phản ánh được một phần của vấn đề chuyển đổi. Để hiểu cặn kẽ hơn về chuyển đổi kinh tế cần xem xét đến các khái niệm về “tốc độ điều chỉnh/chuyển đổi” và “trình tự cải cách/chuyển đổi”.
Tốc độ điều chỉnh. Tốc độ điều chỉnh có thể định nghĩa là khoảng thời gian kể từ khi chuyển từ một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô ban đầu sang một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô mục tiêu. Ví dụ, nếu trong thời kì 0 (không), tỉ lệ lạm phát ở mức X0 %, và phải mất số thời gian là t để đạt đến tỉ lệ lạm phát mục tiêu là Xt, khi đó tốc độ điều chỉnh dùng để chỉ số thời gian từ X0 đến Xt. Tuy nhiên, các mối liên hệ có thể phức tạp hơn, bao gồm các mục tiêu sơ bộ về tăng trưởng, lạm phát và các tài khoản của khu vực đối ngoại, cũng như các mục tiêu trung gian như mục tiêu về cân bằng ngân sách hay tỉ lệ mở rộng tín dụng.
25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tốc độ điều chính cũng dùng để chỉ khoảng thời gian chuyển từ một cơ cấu tổ chức kinh tế này sang một cơ cấu khác. Ví dụ, hiểu theo nghĩa rộng thì tốc độ điều chỉnh dùng để chỉ khoảng thời gian cần cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường. Hiểu theo nghĩa hẹp, đây là khoảng thời gian cần cho việc giảm kiểm soát giá cả, thay đổi cơ cấu thuế quan, tiến hành tư nhân hóa DNNN, thực thi các cải cách trong khu vực tài chính và thiết lập các thể chế thích hợp. Do vậy, tốc độ điều chỉnh dùng để chỉ tổng số thời gian cần thiết để chuyển từ một tập hợp các biến số kinh tế vĩ mô này sang một tập hợp (các biến kinh tế vĩ mô) khác, để tiến hành các cuộc cải cách kinh tế và làm cho các cải cách này có hiệu lực.
Hiện tồn tại cuộc tranh luận tương đối rõ nét giữa hai trường phái: trường phái thứ nhất gồm những người ủng hộ điều chỉnh tốc độ cao (thường gọi là trường phái liệu pháp shock/big-bang) và trường phái thứ hai gồm những người ủng hộ phương thức tiệm tiến (điều chỉnh tốc độ từ từ). Cuộc tranh luận xoay quanh bốn vấn đề lớn: Các chi phí của việc điều chỉnh, sự tín nhiệm của chương trình cải cách, tính khả thi của phương thức điều chỉnh và các rủi ro đi kèm với mỗi chiến lược điều chỉnh. Bảng sau tóm tắt các quan điểm đối lập, tập trung vào các vấn đề rộng.