Chương 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu tổng quát. Mục tiêu cụ thể. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Nghiên cứu nước ngoài.
Nghiên cứu trong nước. Đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. Câu hỏi nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu. Bố cục luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.
Các vấn đề cơ bản về xuất khẩu. Khái niệm xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu. Vai trò của xuất khẩu. Các lý thuyết về mô hình trọng lực hấp dẫn.
Mô hình nghiên cứu đề xuất. Cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu đề xuất. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Quy trình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu định tính. Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết. Phương pháp phân tích - tổng hợp.
Phương pháp mô hình hoá. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Phương pháp nghiên cứu định lượng. Phương pháp thống kê mô tả.
Phương pháp kinh tế lượng. Dữ liệu nghiên cứu. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU GIAI ĐOẠN 2007-2017. Tình hình hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2007-2017.
Khái quát về thị trường EU. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2007-2017. Tình hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Phân tích tác động các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, thông qua cách tiếp cận bằng mô hình trọng lực hấp dẫn.
Thống kê mô tả các biến. Kết quả mô hình ban đầu. Kiểm định lựa chọn loại mô hình và sự phù hợp của mô hình. Kiểm định các khuyết tật trong mô hình.
Kết quả mô hình sau khi khắc phục khuyết tật. So sánh kết quả nghiên cứu của luận văn với một số nghiên cứu trước. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH. Cơ sở đề xuất hàm ý chính sách.
Hàm ý chính sách. Dựa vào yếu tố GDP bình quân đầu người thực gộp của Việt Nam và các nước nhập khẩu. Dựa vào yếu tố dân số gộp của Việt Nam và các nước nhập khẩu 76 5. Dựa vào yếu tố cơ sở hạ tầng của Việt Nam.
Dựa vào yếu tố độ mở thương mại gộp của Việt Nam và các nước nhập khẩu 77 5. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Hạn chế của đề tài. Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài .79 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ lý giải việc chọn đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU”. Bên cạnh đó, tác giả sẽ đặt những câu hỏi nghiên cứu, tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước trước đây, giới thiệu những phương pháp nghiên cứu và lựa chọn đối tượng và phạm vi nghiên cứu phù hợp để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Vấn đề: Các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU. Việt Nam hiện là nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam là một trong những những quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu rất cao. Theo số liệu từ UN Comtrade, trong giai đoạn 2007-2017, kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của nước ta rất cao, giá trị xuất khẩu tăng gần 4,5 lần, từ 48 tỷ USD năm 2007 lên đến 215 tỷ USD năm 2017. Liên minh châu Âu (EU) là nền kinh tế lớn nhất thế giới với GDP đạt 18,82 nghìn tỷ USD, dân số 512 triệu người (2017) và là thị trường nhập khẩu hàng hoá lớn thứ hai của Việt Nam. Năm 2017, KNXK của nước ta vào thị trường EU là 38,31 tỷ USD, chỉ sau Mỹ (41,5 tỷ USD) và đứng trên Trung Quốc (35 tỷ USD).
Điểm đặc biệt trong quan hệ thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU là tính bổ sung cao, ít cạnh tranh. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam. Có thể nói EU vẫn là thị trường đầy tiềm năng để tăng nhanh KNXK của Việt Nam. Tuy nhiên, vị trí xuất khẩu của Việt Nam tại EU vẫn còn khiêm tốn.
Theo số liệu UN Comtrade thì năm 2017 hàng xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 1,99% kim ngạch nhập khẩu (KNNK) của EU. Cụ thể, Việt Nam chỉ đứng thứ 10 trong danh sách các quốc gia xuất khẩu vào thị trường EU sau Trung Quốc, Mỹ, Nga, Thuỵ Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Na Uy, Hàn Quốc và Ấn Độ. Trong những năm gần đây, mô hình trọng lực hấp dẫn (mô hình gravity) được đánh giá là một trong những công cụ hữu ích nhất trong việc lượng hóa tác động của các yếu tố tới dòng thương mại. Tinbergen là người đầu tiên sử dụng mô hình trọng lực vào năm 1962.
Từ thập kỷ 70 trở lại đây, nhiều nhà kinh tế như Anderson (1979), 2 Bergstrand (1985), Haveman and Hummels (2004), tiếp tục hoàn thiện nền tảng lý thuyết của mô hình. Quan tâm đến lĩnh vực xuất khẩu, các nghiên cứu thực nghiệm đã nỗ lực bổ sung nhiều yếu tố mới vào mô hình. Chẳng hạn, Thai, T. (2006) sử dụng các yếu tố GDP gộp của Việt Nam và nước nhập khẩu, dân số gộp của Việt Nam và nước nhập khẩu để thay thế cho GDP và dân số riêng lẻ trong truyền thống.
Lehmann và cộng sự (2007) bổ sung thêm yếu tố chi phí vận chuyển theo đường biển. (2013) đã bổ sung thêm một yếu tố mới vào mô hình trọng lực truyền thống là FDI của nước xuất khẩu. Tuy vậy, các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam mới chỉ nghiên cứu các ngành hàng cụ thể xuất khẩu của Việt Nam như nông sản (Đỗ Thị Hoà Nhã (2019)), hoặc nghiên cứu chung về dòng thương mại của Việt Nam-EU (Thai, T. (2006)) chứ chưa có tác giả nào nghiên cứu vấn đề xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU dưới cách tiếp cận từ mô hình trọng lực.
Từ đó, yêu cầu cấp bách từ thực tiễn là tìm ra và lượng hoá các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU và trên cơ sở đó đưa ra các hàm ý chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu để tăng được KNXK và từng bước cải thiện nền kinh tế. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn “Các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về các yếu tố tác động đến xuất khẩu, phân tích thực trạng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, thực trạng các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU, luận văn đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đến năm 2025.
Mục tiêu cụ thể • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU. • Đề xuất giả thuyết và mô hình lý thuyết lượng hoá các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU. 3 • Phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2007-2017. • Đánh giá tác động của các yếu tố đến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU dưới cách tiếp cận của mô hình trọng lực hấp dẫn.
• Đưa ra hàm ý chính sách trên cơ sở kết quả nghiên cứu của mô hình luận văn nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU đến năm 2025. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong phần này, luận văn tổng hợp một số nghiên cứu thực nghiệm từ trước đến nay của trong và ngoài nước đã sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn để nghiên cứu về các yếu tố tác động đến KNXK hoặc dòng thương mại của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới (hoặc một ngành hàng hoá cụ thể) và từ đó đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế để tìm ra “khoảng trống” cho luận văn. Nghiên cứu nước ngoài Zarzoso và cộng sự (2003), đã nghiên cứu dòng chảy thương mại của Mercosur-EU. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình FEM với dữ liệu bảng của 20 nước (4 nước chính thuộc khối Mercosur+Chile và 15 nước EU), giai đoạn 1988-1996.
Và kết quả nghiên cứu cho thấy trong ngắn hạn, các yếu tố tác động cùng chiều đến dòng chảy thương mại: thu nhập của nước xuất khẩu và nhập khẩu, dân số nước nhập khẩu, cơ sở hạ tầng của nước xuất khẩu và nhập khẩu, tỷ giá hối đoái thực, biến trễ tỷ giá hối đoái thực, biến giả EU và biến giả Mercosur. Ngược lại, các yếu tố tác động ngược chiều bao gồm: dân số nước xuất khẩu và chênh lệch GDP bình quân đầu người. (2005), nghiên cứu các yếu tố tác động đến thương mại của Hàn Quốc. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình OLS, với số liệu của Hàn Quốc và 30 quốc gia có kim ngạch thương mại lớn nhất với Hàn Quốc.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố GDP gộp của Hàn Quốc và đối tác và các biến giả TCI và APEC có tác động cùng chiều, trong khi khoảng cách địa lý là yếu tố tác động ngược chiều đến thương mại của Hàn Quốc. Lehman và cộng sự (2007), nghiên cứu tác động của liên minh thuế quan đến xuất khẩu các hàng hóa chủ lực của Thổ Nhĩ Kỳ vào thị trường EU trong giai đoạn 4 1988-2002. Theo đó, các hàng hóa này được chia thành 16 nhóm trong đó có 3 nhóm nông sản là: nhóm rau, nhóm quả và hạt có thể ăn được và nhóm rau, quả, hạt đã qua chế biến. Điểm mới của bài nghiên cứu là trong mô hình trọng lực, yếu tố chi phí vận chuyển được cụ thể hóa bằng chi phí vận chuyển theo đường biển mà không phải khoảng cách địa lý như mô hình cơ bản.
Đồng thời, tác giả sử dụng kết hợp nhiều kỹ thuật ước lượng như: SUR, GMM, OLS nhằm kiểm soát sự tương quan giữa các quan sát chéo.