mở đầu cho nội dung nghiên cứu như vấn đề cần được nghiên cứu, các câu hỏi của nghiên cứu, mục tiêu của nghiên cứu, vv và vv. Trong chương 2, tác giả sẽ tham khảo lại những lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước đây đã được tiến về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp để làm nền tảng cơ sở lý thuyết cho vấn đề cần được nghiên cứu. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép là rất cần thiết để có cơ sở nhằm đưa ra các quyết định để nâng cao tính sinh lời cho doanh nghiệp.1 Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Theo Pandey (1980) cho rằng khả năng sinh lời là khả năng kiếm được lợi nhuận của một doanh nghiệp. Điều này có thể diễn giải rằng: khả năng sinh lời phân tích các phương thức và những đánh giá về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được liên quan đến đầu tư của các cổ đông hoặc nguồn vốn được sử dụng trong công ty.
Còn theo quan điểm của Malik (2011) cho rằng khả năng sinh lời là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính. Điều này hàm ý rằng, mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa sự giàu có cho chủ sở hữu và khả năng sinh lời là yếu tố quyết định rất quan trọng để đánh giá đến hiệu suất hoạt động của một doanh nghiệp. Thế nên, khả năng sinh lời có liên quan chặt chẽ đến lợi nhuận. Hơn nữa, theo quan điểm của nhóm tác giả Hà Minh Tâm và cộng sự (2021) cho rằng khả năng sinh lời là một chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp.
Kết luận, khả năng sinh lời là khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp và khả năng sinh lời có mối quan hệ chặt chẽ tới tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, nghiên cứu về khả năng sinh lời của một doanh nghiệp là nghiên cứu đến tính hiệu quả hoạt động trong sản xuất kinh doanh của một 9 doanh nghiệp, hay hàm ý rằng, các yếu tố tác động tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp thì cũng sẽ có mối quan hệ tương quan đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.2 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tiêu chí để đánh giá để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp là chỉ số tỷ suất sinh lời, cụ thể gồm có: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Cách tính: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐸 = 𝑉𝐶𝑆𝐻 Các chỉ số ROA và ROE là các biến số thường được sử dụng cho các nghiên cứu liên quan tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Xét tới chỉ số ROA làm biến được giải thích thì có nghiên cứu của Bolek và Wilinski (2012) nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố kinh tế bên trong lẫn bên ngoài lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Warsaw trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010. Ngoài ra, còn có nghiên cứu của Rehman và Khidmat (2014) nghiên cứu trên 9 công ty thuộc ngành hóa học niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Pakistan từ năm 2001 đến năm 2009.
Đối với chỉ số ROE làm biến được giải thích thì có nghiên cứu của Lim và Rokhim (2021) nghiên cứu đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty dược: một bằng chứng của Indonesia. Như vậy, nhìn chung, tỷ suất ROA và ROE là 2 chỉ số thường đại diện cho tính khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Bởi vì, như đã đề cập, khả năng sinh lời là xét đến khả năng tạo lợi nhuận của doanh nghiệp hay đồng thời là xét tới tính hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định. Vì vậy, khi đánh giá khả năng lời của một doanh nghiệp, các nghiên cứu thường sử dụng tỷ suất ROE và ROA làm biến được giải thích cho mô hình nghiên cứu.2 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn Lý thuyết về cấu trúc vốn hiện đại của Modigliani và Miller (1958) hay còn được nghe nói đến với tên gọi là lý thuyết của M&M, bởi vì, lý thuyết cấu trúc vốn của M&M nhằm chỉ ra sự tác động của cấu trúc vốn đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Với việc sử dụng chỉ số ROE làm tác động đo lường đã chỉ rõ cấu trúc về vốn ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Với các gỉa thiết cơ bản, lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề: thứ nhất (I) là giá trị doanh nghiệp, thứ hai (II) là chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các giả định cơ bản của Lý thuyết Modigliani và Miller (1958): ➢ Thị trường tài chính không có các chi phí giao dịch, thông tin về thị trường luôn sẵn sàng cho các nhà đầu tư. ➢ Tất cả nhà đầu tư có kỳ vọng như nhau về mức lợi nhuận hoạt động ròng; Các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường hoạt động như nhau.
➢ Các doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh đều tương đương nhau. ➢ Các chủ thể có thể vay nợ với cùng mức lãi suất cho vay. ➢ Doanh nghiệp chia toàn bộ lợi nhuận kiếm được cho các chủ sở hữu. ➢ Không có chi phí kiệt quệ về tài chính.
➢ Không có thuế tác động. Mệnh đề Modigliani và Miller I ✓ Thứ nhất, trong điều kiện không có thuế suất. Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, giá trị doanh nghiệp có vay nợ (VL) và giá trị doanh nghiệp không có vay nợ (VU) là bằng nhau. Cụ thể, trong điều kiện không có thuế suất doanh nghiệp thì bất kì tỷ lệ chia nào giữa nợ và vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Dẫn đến, trong trường hợp này không tồn tại cấu trúc về vốn tối ưu và đứng về ban phía quản trị doanh nghiệp thì ban lãnh đạo không thể nào thay đổi giá trị doanh nghiệp thông qua thay đổi cấu trúc về vốn. 11 ✓ Thứ hai, trong điều kiện có thuế suất. Trong điều kiện có thuế suất, xét đến giá trị doanh nghiệp thay đổi như thế nào khi mà tỷ lệ giữa nợ và VCSH thay đổi. Mệnh đề I, phát biểu rằng: “Trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp thì giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng với doanh nghiệp không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế”.
VL = VU + txD Trong đó: VU là giá trị của doanh nghiệp trường hợp doanh nghiệp sử dụng 100% vốn chủ sỡ hữu (VCSH) VL là giá trị của doanh nghiệp trường hợp doanh nghiệp sử dụng nợ vay t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D là nợ vay txD là hiện giá của lá chắn thuế Mệnh đề Modigliani và Miller II ✓ Thứ nhất, trong điều kiện không có thuế suất Trong điều kiện không có thuế suất thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng đòn bẩy tài chính làm cho vốn cổ phần rủi ro hơn, sẽ làm cho các cổ đông yêu cầu lợi nhuận vốn cổ phần phải tăng lên. Mệnh đề II, phát biểu rằng: “Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có mối quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ”. Mối quan hệ trên được thể hiện thông qua công thức sau: re = rU + (rU - rD)*D/E Trong đó: re: lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần rD: chi phí sử dụng nợ rU: chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần D: giá trị của khoản nợ hay trái phiếu do doanh nghiệp phát hành 12 E: giá trị vốn cổ phần của doanh nghiệp ✓ Thứ hai, trong điều kiện có thuế suất Lợi nhuận yêu cầu đối với VCSH có mối quan hệ cùng chiều với mức sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ. Mối quan hệ này được thể hiện qua công thức sau: re = rU + (rU - rD)*(1-tC)*D/E rWACC = D/(D+E)*rD*(1-tC) + E/(D+E)*rE Tác động của đòn bẩy tài chính lên chi phí sử dụng vốn.
Doanh nghiệp sử dụng nợ vay sẽ tiết kiệm khoản thuế dẫn đến chi phí sử dụng vốn trung bình giảm. Do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy về tài chính sẽ làm tăng nguy cơ về rủi ro đối với vốn cổ phần của doanh nghiệp nên chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi doanh nghiệp gia tăng tỷ lệ dùng nợ.2 Lý thuyết đánh đổi tĩnh (Static Trade-Off Theory) Lý thuyết đánh đổi tĩnh là một lý thuyết tài chính dựa trên công trình nghiên cứu của hai nhà nghiên cứu về kinh tế học Modigliani và Miller vào những năm 1950, hai nhà nghiên cứu nghiên cứu lý thuyết cấu trúc về vốn và hợp tác để phát triển mệnh đề không liên quan đến cấu trúc về vốn. Định đề này phát biểu trong các thị trường hoàn hảo, cấu trúc về vốn mà một doanh nghiệp sử dụng không quan trọng bởi vì giá trị thị trường của một doanh nghiệp được xác định bởi khả năng thu nhập của doanh nghiệp và rủi ro của các tài sản nền tàng của nó. Với lý thuyết cân bằng tĩnh, vì các khoản thanh toán nợ của một công ty được khấu trừ thuế và ít rủi ro hơn liên quan đến việc vay nợ so với vốn chủ sở hữu, nên tài trợ bằng nợ ban đầu rẻ hơn so với tài trợ vốn cổ phần.
Điều này có nghĩa là một công ty có thể giảm chi phí vốn bình quân gia quyền của mình thông qua cơ cấu vốn có nợ trên vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc tăng số nợ cũng làm tăng rủi ro cho một công ty, phần nào bù đắp cho việc giảm WACC. Do đó, lý thuyết cân bằng tĩnh xác định sự kết hợp giữa 13 nợ và vốn chủ sở hữu trong đó WACC giảm đi sẽ bù đắp rủi ro tài chính ngày càng tăng cho một công ty. Trong khuôn khổ đánh đổi tĩnh, doanh nghiệp thiết lập một cơ cấu vốn mục tiêu tối ưu dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích kinh tế mà lá chắn thuế đem lại và các chi phí liên quan đến việc sử dụng nợ (chi phí khánh kiệt về tài chính và chi phí về đại diện).