CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vai trò to lớn với bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân. Do vậy, hiệu quả hoạt động là đề tài được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu. Một số nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã được thực hiện như sau: 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Onaolapo & Kajola (2010) trên các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 2001 đến năm 2007 cho kết quả hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đại diện bởi hai biến phụ thuộc ROA và ROE chịu sự tác động của các nhân tố là tốc độ tăng trưởng, thời gian hoạt động, lĩnh vực hoạt động, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ đầu tư tài sản cố định và vòng quay tài sản. Nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007) trên 167 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Amman – Jordan từ năm 1989 đến năm 2003 có biến phụ thuộc là “tỷ suất giữa tổng giá trị thị trường của vốn cổ phần và giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản” và “tỷ suất giá trị thị trưởng của cổ phần trên giá trị sổ sách của cổ phần” – đại diện cho phương diện thị trường, biến phụ thuộc ROA đại diện cho phương diện tài chính.
Các biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chịu sự tác động của các nhân tố là tốc độ tăng trưởng, cơ cấu vốn, quy mô doanh nghiệp, đầu tư tài sản cố định, thuế, ngành nghề kinh doanh. Nghiên cứu của Marian Siminica và các cộng sự (2011) trên 40 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Bucharest tại Romania từ năm 2007 đến năm 2010 có biến phụ thuộc phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là ROA. Các biến 4 độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: tỷ lệ nợ (DER), đòn bẩy tài chính (FL), tỷ lệ có việc làm (CER), tỷ trọng tài sản cố định (FAR), tỷ lệ tài trợ cho tài sản cố định (RFFA), tỷ lệ ổn định tài chính (FSR), khả năng thanh toán hiện hành (CL), khả năng thanh toán nhanh (QR), vốn lưu động (WC), vốn đầu tư (CCI), nhu cầu vốn lưu động (CNWC), số ngày vòng quay vốn lưu động (RFT), tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động (RNWC), kỳ thu tiền bình quân (TC), hiệu suất sử dụng tài sản (NCA), số ngày một vòng quay tài sản (DCA), tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lợi của doanh thu (ROS). Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc tài chính có ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, sau thời kỳ khủng hoảng các nhân tố như tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lợi của doanh thu có ảnh hưởng mạnh nhất đến hiệu quả hoạt động.2 Các nghiên cứu trong nước Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Thắm (2015).
Luận văn đã xây dựng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, mô hình ảnh hưởng cố định và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của 16 doanh nghiệp ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian 05 năm từ năm 2009-2013. Kết quả kiểm định Hausman cho thấy với mô hình ROA sẽ lựa chọn mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên, còn mô hình ROE sẽ lựa chọn mô hình ảnh hưởng cố định. Kết quả nghiên cứu đã xác định 07 nhân tố ảnh hưởng là: quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, lạm phát và lãi suất có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tác giả đã đưa ra các kết luận và hàm ý các chính sách liên quan đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nghiên cứu. Luận văn thạc sĩ “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty thuộc nhóm ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thảo (2015).
Luận văn đã xây 5 dựng mô hình hồi qui bội và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của 32 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 05 năm từ năm 2009-2013. Biến phụ thuộc ROA được sử dụng để đo lường hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các biến độc lập bao gồm: quy mô doanh nghiệp, cơ cấu vốn, tốc độ tăng trưởng, rủi ro kinh doanh, đầu tư tài sản cố định và thời gian hoạt động. Tác giả phân tích bằng mô hình Pooled OLS, FEM, REM và thu được kết quả các nhân tố như: Quy mô doanh nghiệp (đại diện bởi biến doanh thu thuần), tốc độ tăng trưởng (đại diện bởi biến tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần), cơ cấu vốn (đại diện bởi tỷ lệ nợ), thời gian hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nghiên cứu.
Tác giả tập trung đề xuất kiến nghị liên quan đến tỷ lệ nợ và doanh thu thuần nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Lê Thanh Tuyền (2013). Tác giả đã thiết kế mô hình hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của 45 công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 03 năm từ năm 2011-2013. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến cho kết quả có 05 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh (đo lường bằng chỉ tiêu ROA) của các công ty ngành chế biến thực phẩm bao gồm: Tốc độ tăng trưởng (cùng chiều), Quản trị nợ phải thu khách hàng (ngược chiều), Đầu tư tài sản cố định (ngược chiều), Cơ cấu vốn (ngược chiều), Rủi ro kinh doanh (ngược chiều).
Từ kết quả nghiên cứu tác giả đã kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty ngành sản xuất chế biến thực phẩm. Bài nghiên cứu “Nghiên cứu các nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Phạm Đức Cường và Trần Xuân Quân, 6 tạp chí khoa học kinh tế số 6(01) năm 2018. Với mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh (ROA và ROE) của 30 doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trong giai đoạn từ năm 2011-2015, nhóm tác giả đã kiểm định bằng 03 mô hình Pooled OLS, FEM, REM và lựa chọn mô hình phù hợp nhất bằng kiểm định F-test và Hausman. Kết quả nghiên cứu cho thấy 04 nhân tố ảnh hưởng đến cả (ROA và ROE) là: quy mô doanh nghiệp, cơ cấu vốn, rủi ro kinh doanh và đầu tư tài sản cố định.
Bài nghiên cứu “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dầu khí ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Tùng, tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam số 11(12) năm 2016. Nghiên cứu đã sử dụng kiểm định Hausman trên phần mềm Eview để lựa chọn mô hình REM nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của 30 doanh nghiệp dầu khí trong giai đoạn từ năm 2010-2014. Kết quả nghiên cứu đã nhận định 03 nhân tố: cấu trúc vốn, tốc độ tăng trưởng và quản trị nợ phải thu có ảnh hưởng tới chỉ tiêu ROA của các doanh nghiệp dầu khí ở Việt Nam.2 Khoảng trống nghiên cứu Các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã khái quát hóa được cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hệ thống hóa được các chỉ số dùng để đo lường hiệu quả kinh doanh đồng thời bằng phương pháp nghiên cứu định lượng các tác giả đã xác định được một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu nào xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trên về cơ sở lý luận và khung phân tích, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà 7 Nội” nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty ngành xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.2 Khái quát về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động Hiệu quả là một phạm trù phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu xác định. Kết quả đạt được Hiệu quả = Hao phí nguồn lực cần thiết “Hiệu quả là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm với sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Mối quan hệ này có thể được tính bằng hiện vật (gọi là hiệu quả kỹ thuật) hoặc giá trị (hiệu quả kinh tế). Hiệu quả kinh tế là phương diện của quá trình sản xuất cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định.
Hiệu quả kỹ thuật là phương diện của quá trình sản xuất.