CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC. Tổng quan về cổ tức. Cổ tức được hiểu là một phần lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp dành để chi trả cho các cổ đông (chủ sở hữu doanh nghiệp). Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần.
Các phương thức chi trả cổ tức. Cổ tức chi trả bằng tiền mặt. Cổ tức tiền mặt là số đơn vị tiền tệ mà doanh nghiệp thanh toán cho chủ sở hữu tính trên một cổ phần. Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt.
Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán, tức giảm nguồn vốn chủ sở hữu. Cổ tức chi trả bằng cổ phiếu. Trả cổ tức bằng cổ phiếu là doanh nghiệp chi trả thêm cổ phần thường cho các cổ đông nắm giữ cổ phần thường theo tỷ lệ nhất định và doanh nghiệp không nhận được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông. Khi thực hiện giao dịch này không có sự thay đổi (tăng hay giảm) nào về vốn cổ đông cũng như tài sản của doanh nghiệp.
Về cơ bản, số lượng cổ phiếu sẽ tăng lên và làm cho tỷ lệ vốn cổ phần tăng lên nhưng tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông cũ không đổi. Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu cũng giống như việc tách cổ phiếu. Cả hai trường hợp đều làm số lượng cổ phần tăng lên và giá trị cổ phần giảm xuống. Trong khi trả cổ tức bằng cổ phiếu làm tài khoản chủ sở hữu tăng lên và lợi nhuận chưa phân phối giảm xuống, trong khi đó tách cổ phiếu làm giảm mệnh giá mỗi cổ phần.
Cổ tức trả bằng tài sản. Doanh nghiệp trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản hay cổ phiếu của doanh nghiệp khác do doanh nghiệp sở hữu. Hình thức này rất hiếm xảy ra trong thực tiễn. Mua lại cổ phần.
Trang 4 Ngoài ra còn có hình thức mua lại cổ phần. Cổ phần mua lại được gọi là cổ phiếu quỹ. Việc mua lại này có thể thực hiện bằng nhiều cách như: - Chào mua với giá cố định (hay còn gọi là giá đệm, là một mức giá thường cao hơn giá thị trường); - Mua lại cổ phần ở thị trường tự do; - Mua lại cổ phiếu theo hình thức đấu giá; - Mua lại cổ phiếu mục tiêu, hay thương lượng riêng với những người nắm giữ lượng lớn các cổ phần;… Cổ tức tiền mặt thể hiện sự cam kết tiếp tục khoản này trong tương lai của doanh nghiệp, mua lại cổ phần được xem như là hoàn trả tiền một lần. Các doanh nghiệp mua lại cổ phần có thể do các nguyên nhân sau: - Nhà quản trị xem xét ảnh hưởng của thuế vì mức thuế đánh trên lãi vốn thấp hơn cổ tức và việc trì hoãn thuế đối với lãi vốn, mua lại cổ phần được lợi thuế đáng kể so với cổ tức tiền mặt.
- Chi phí đại diện của dòng tiền cao. Những doanh nghiệp có lượng tiền mặt dư thừa nhưng không chắc chắn về khả năng tiếp tục tạo ra dòng tiền thặng dư này trong tương lai, sẽ chọn cách mua lại cổ phần thay vì chia cổ tức tiền mặt. Hoặc thiết lập một mức cổ tức thấp đủ để duy trì trong những lúc hoạt động khó khăn và sử dụng cách mua lại cổ phần để phân phối lượng tiền thặng dư. - Sử dụng như một biện pháp phát tín hiệu tích cực cho tài sản của cổ đông rằng nhà quản trị dự kiến doanh nghiệp có lợi nhuận và dòng tiền cao hơn trong tương lai.
- Mua lại cổ phần cũng hữu ích khi doanh nghiệp muốn thay đổi lớn về cấu trúc vốn, muốn phân phối tiền mặt từ các sự kiện diễn ra một lần như việc bán một bộ phận của doanh nghiệp. - Nhằm đáp ứng cho các hoạt động sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; các điều khoản chuyển đổi của cổ phần ưu đãi và trái khoán; cũng như việc ngăn cản thao túng. Trang 5 - Thực hiện chương trình cổ phiếu thưởng cho nhân viên (ESOP)…. Đứng dưới góc độ các cổ đông, việc doanh nghiệp mua lại cổ phần sẽ làm tăng mức lợi nhuận mỗi cổ phần cho số cổ phần còn lại và làm tăng giá cổ phần.
Tổng quan về chính sách cổ tức. Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại có thể được dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần, trong khi cổ tức cung cấp cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên. Một chính sách cổ tức bao gồm 2 nội dung chính là mức cổ tức và thời gian trả cổ tức.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức. Trong thực tế có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức. Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản sau cần được cân nhắc khi các nhà quản trị lựa chọn một chính sách cổ tức cho doanh nghiệp mình: 1. Các hạn chế pháp lý.
Hầu hết các quốc gia đều có luật để điều tiết việc chi trả cổ tức của những doanh nghiệp đã đăng ký hoạt động kinh doanh ở nước đó. Về cơ bản luật này quy định: - Không thể dùng vốn của doanh nghiệp để chi trả cổ tức còn gọi là “Hạn chế suy yếu vốn”. Ở một số các quốc gia, vốn được định nghĩa chỉ bao gồm mệnh giá của cổ phần thường, trong khi ở một số các quốc gia khác, vốn được định nghĩa rộng hơn, bao gồm cả phần vốn góp vượt quá tài khoản mệnh giá. Ví dụ xem xét Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp XYZ năm N ta có các chỉ tiêu sau: Cổ phần thường (mệnh giá $10) : 600.000$ Vốn góp cao hơn mệnh giá : 300.000$ Lợi nhuận giữ lại : 100.000$ Tổng vốn chủ sở hữu : 1.000$ Trang 6 Nếu luật quy định vốn là giá trị mệnh giá của cổ phần thường, Doanh nghiệp có thể chi ra số tiền = $1.000 cho cổ tức.
Trường hợp giới hạn chi trả cổ tức từ lợi nhuận giữ lại, Doanh nghiệp chỉ có thể chi trả số tiền $100.000 cho cổ tức. - Cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng lũy kế đến thời hiện hành được gọi là “Hạn chế lợi nhuận ròng”. Hạn chế này đòi hỏi một doanh nghiệp phải có phát sinh lợi nhuận trước khi được phép chi trả cổ tức tiền mặt. Điều này nhằm ngăn cản các chủ sở hữu rút lại vốn đầu tư ban đầu và làm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ.
- Không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được gọi là “Hạn chế mất khả năng thanh toán”. Theo quy định này, một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có thể không chi trả cổ tức tiền mặt. Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nghĩa là nợ đang nhiều hơn tài sản, việc tiếp tục chi trả cổ tức sẽ dẫn tới cản trở các trái quyền ưu tiên của các chủ nợ đối với tài sản của doanh nghiệp. Các điều khoản hạn chế.
Các điều khoản hạn chế nằm trong các giao kèo trái phiếu, điều khoản vay, thỏa thuận vay ngắn hạn, hợp đồng thuê tài sản và các thỏa thuận cổ phần ưu đãi. Chúng cơ bản là để giới hạn tổng mức cổ tức một doanh nghiệp có thể chi trả thông qua quy định: - Không thể chi trả cổ tức cho đến khi lợi nhuận đạt đến một mức nhất định nào đó; - Một phần dòng tiền phải được dành để trả nợ; - Vốn luân chuyển (tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn) hay tỷ lệ nợ hiện hành không cao hơn một mức định sẵn nào đó… 1. Các ảnh hưởng của thuế. Tùy theo mỗi quốc gia mà có sự khác biệt hay không giữa thuế suất đánh trên thu nhập cổ tức và thu nhập lãi vốn.
Nhưng thuế suất biên tế đánh trên thu nhập lãi vốn thường thấp hơn thuế suất biên tế đánh thu nhập cổ tức là biện pháp để chính phủ Trang 7 khuyến khích các doanh nghiệp giữ mức cổ tức thấp để các cổ đông có thể nhận được một phần lớn hơn tỷ suất sinh lợi trước thuế dưới hình thức lãi vốn. Ví dụ từ khi thuế thu nhập tại Mỹ có hiệu lực vào đầu thế kỷ 20, cổ tức nhận được từ đầu tư được xem như các khoản thu nhập thông thường khác và chịu cùng thuế suất. Trong khi thu nhập lãi vốn từ chênh lệch giá các khoản đầu tư thì chịu mức thuế thấp hơn nhiều. Xem xét về thuế suất biên tế cao nhất đánh trên cổ tức và thu nhập lãi vốn từ 1954 như sau: Qua sơ đồ ta thấy thuế suất thu nhập lãi vốn thì thấp hơn rất nhiều so với thuế suất đánh trên thu nhập cổ tức cho đến năm 1986, khi có cải cách về thuế với cùng mức thuế suất 28% cho thu nhập cổ tức và thu nhập lãi vốn.
Và năm 2003, thuế thu nhập cổ tức cũng được giảm xuống cùng mức thuế thu nhập lãi vốn là 15% đã làm vô hiệu hóa các bất lợi vầ thuế. Luật thuế năm 2003 của Mỹ giảm thuế đánh trên cổ tức cho bằng với thuế thu nhập lãi vốn đã làm cho cổ tức hấp dẫn hơn, ít nhất là đối với các nhà đầu tư cá nhân. Chúng ta sẽ kiểm chứng doanh nghiệp có trả cổ tức tăng tương ứng không. Thật quá Trang 8 sớm để nói về giả thuyết này, nhưng đã có những bằng chứng là các doanh nghiệp đã thay đổi chính sách về cổ tức để phản ứng lại những thay đổi chính sách về thuế thu nhập cổ tức.
Các doanh nghiệp về khoa học công nghệ như Microsoft chưa bao giờ trả cổ tức trước đây cũng đã bắt đầu trả cổ tức. Khi so sánh tỷ lệ các doanh nghiệp trả cổ tức qua các năm và tỷ lệ cổ tức so với mức vốn hóa của thị trường từ 1960 đến 2003 như sau: Ta thấy có sự gia tăng đột ngột số lượng các doanh nghiệp trả cổ tức vào năm 1986 và đặc biệt vào năm 2003 số cổ tức chi trả sau một thời gian dài sụt giảm. Dù ưu đãi thuế này không còn thì thu nhập lãi vốn vẫn có lợi điểm về thuế so với thu nhập cổ tức đó là thu nhập cổ tức bị đánh thuế ngay (trong năm hiện hành), còn thu nhập lãi vốn có thể hoãn đến các năm sau. Nhu cầu thanh khoản.
Chi trả cổ tức là dòng tiền chi ra.