Phần mở đầu Chương 2 : Cơ sở lý luận và tổng quan về công ty Chương 3 : Phân tích môi trường và chuỗi giá trị Chương 4 : Xây dựng, đánh giá và lựa chọn các phương án chiến lược Chương 5 : Giải pháp gợi ý 15 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY 2. Khái niệm về chiến lược kinh doanh: 2. Khái niệm: Chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại.
Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” nghĩa là vai trò của các vị tướng trong quân đội. Sau đó phát triển thành “nghệ thuật của các tướng lĩnh” – nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh. Đến khoảng năm 330 trước công nguyên, tức thời Alexander Đại đế, chiến lược dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lượng để đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Thuật ngữ “trận địa” của chiến lược quân sự, có thể hiểu như là môi trường, trong đó diễn ra hoạt động cạnh tranh.
Trong quân sự, trận địa đó có thể là đồng bằng, rừng núi, đầm lầy, sông ngòi,…ứng với mỗi trận địa là những cách thức triển khai quân khác nhau để có hiệu lực tốt nhất. Trong kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh không trực tiếp đối mặt như trong quân sự. Họ cạnh tranh với nhau trong một môi trường ngành hướng đến một phân đoạn thị trường mục tiêu và những nỗ lực nhằm thu hút khách hàng. Qua hoạt động mua sắm, khách hàng sẽ quyết định đối thủ nào thắng và đối thủ nào thua.
Kết cục của cạnh tranh thể hiện bằng thành tích của mỗi đối thủ trên thị trường, mà khách hàng chính là người ghi nhận thành công của mỗi đối thủ. Dường như, trong tâm trí khách hàng, người thắng nổi bật với những đặc tính quan trọng thỏa mãn nhu cầu của họ. Trong kinh doanh, có nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược, mỗi khái niệm có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Năm 1962 Alfred Chandler đưa ra khái niệm chiến lược như sau: “Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của công ty, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”.
16 Đến những năm 1980 James B. Quinn đưa ra khái niệm về chiến lược có tính khái quát hơn: “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và trình tự hành động thành một thể thống nhất”. Ngoài ra William J. Glueck cũng đưa ra khái niệm về chiến lược là: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của công ty sẽ được thực hiện”.
Sau đó, Johnson và Scholes (1999) định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, scholes, K. Exploring Corporate Strategy, 5th ED. Prentice Hall Europe). Từ những nghiên cứu trên, có thể khái quát như sau: Chiến lược là tập hợp các mục tiêu cơ bản dài hạn, được xác định phù hợp với tầm nhìn, sứ mạng của tổ chức và các cách thức, phương tiện để được những mục tiêu đó một cách tốt nhất, sao cho phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, đón nhận được các cơ hội, né tránh hoặc giảm thiểu các thiệt hại do những nguy cơ từ môi trường bên ngoài.
Lý luận về quản trị chiến lược: 2. Định nghĩa về quản trị chiến lược: Quản trị chiến lược là sự tác động của các chủ thể quản trị lên đối đối tượng quản trị và khách thể quản trị một cách thường xuyên, liên tục nhằm xác định mục tiêu, con đường mà doanh nghiệp cần hướng đến trong tương lai trên cơ sở phát huy những tiềm năng, thế mạnh, hạn chế những yếu kém, tranh thủ cơ hội, đẩy lùi nguy cơ, biến nỗ lực của mỗi người thành nỗ lực chung của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong những điều kiện môi trường nhất định. + Chủ thể quản trị: Là người đứng đầu, có quyền lực cao nhất trong tổ chức quản trị, Quyền lực đó gắn với trách nhiệm của họ như hình với bóng. 17 + Đối tượng quản trị: là những người dưới quyền của chủ thể quản trị, có trách nhiệm thực hiện các mệnh lệnh của chủ thể quản trị, họ được đãi ngộ đúng đắn theo khả năng quản lý.
+ Khách thể quản trị: Là những đối tượng có liên quan đến quá trình quản trị, đó chính là khách hàng, bạn hàng, các đối thủ cạnh tranh và các loại môi trường tác động. Ý nghĩa của việc quản trị chiến lược - Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức, doanh nghiệp có thể chủ động hơn thay vì bị động trong việc vạch rõ tương lai của mình; nó cho phép tổ chức, doanh nghiệp có thể tiên phong và gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động. Quản trị chiến lược như là một hướng đi cho tổ chức, doanh nghiệp. - Quản trị chiến lược cung cấp cơ sở cho việc vạch ra và lý giải về nhu cầu cần có sự thay đổi cho ban giám đốc và mọi người trong công ty.
Nó giúp cho họ nhìn nhận những thay đổi như là cơ hội mới chứ không phải mối đe dọa. - Quản trị chiến lược đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức, doanh nghiệp như: giúp nhận dạng và tận dụng cơ hội; tối thiểu hóa rủi ro; giúp cho sự phân bổ tốt hơn về thời gian và nguồn lực của tổ chức, doanh nghiệp;…Các cấp quản lý chiến lược 2. Các cấp quản lý chiến lược: Quản lý chiến lược có thể tiến hành ở các cấp khác nhau trong một tổ chức. Có thể đưa ra 3 cấp chiến lược: Chiến lược cấp công ty: Ở cấp độ đơn vị kinh doanh, vấn đề chiến lược đề cập ít hơn đến việc phối kết hợp giữa các đơn vị tác nghiệp nhưng nhấn mạnh hơn đến việc phát triển và bảo vệ lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ mà đơn vị quản lý.
Điểm căn bản của hoạch định và chiến lược ở cấp công ty là sự định hướng chung xuyên suốt các bộ phận trong tổ chức. 18 Mặc dù có nhiều loại chiến lược cấp công ty khác nhau, nhưng chúng ta sẽ tìm hiểu 5 lại chiến lược chính. Sử dụng chúng một cách khôn ngoan để tìm ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình. - Lãnh đạo chi phí: cạnh tranh với một loạt các doanh nghiệp dựa trên giá cả.
- Khác biệt: cạnh tranh bằng cách sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ với các tính năng hoàn toàn độc đáo. - Khác biệt hóa tập trung: không chỉ cạnh tranh thông qua sự khác biệt (tính độc đáo của sản phẩm / dịch vụ) mà còn bằng cách chọn một phần nhỏ của thị trường để tập trung vào. - Tập trung chi phí thấp: cạnh tranh không chỉ thông qua giá cả mà còn bằng cách chọn một phần nhỏ của thị trường để tập trung vào. - Tích hợp phân biệt chi phí thấp: cạnh tranh bằng cách sử dụng cả chi phí thấp và phân biệt.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh hay chiến lược kinh doanh hướng đến cách thức công ty sử dụng để cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. Chiến lược kinh doanh bao gồm cách thức cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường, cách thức tổ chức định vị thương hiệu trên thị trường đó, nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh. Các nhà quản trị cấp cao của hãng hoặc của SBU (Strategic Business Unit) tập trung vào việc hoạch định và hình thành chiến lược để (1) duy trì và dành lợi thế cạnh tranh trong việc phục vụ khách hàng, (2) xác định các lĩnh vực chức năng (ví dụ, sản xuất, nguồn nhân lực, marketing và tài chính) có thể đóng góp một cách hữu hiệu như thế nào, và (3) phân bổ các nguồn lực giữa các chức năng. Việc tập trung vào khách hàng là cơ sở căn bản của sự thành công của hoạch định và chiến lược cấp đơn vị kinh doanh.
Chiến lược cấp chức năng: 19 Chiến lược cấp chức năng hay còn gọi là chiến lược họat động, là chiến lược của các bộ phận chức năng (sản xuất, marketing, tài chính, nghiên cứu và phát triển…). Các chiến lược này giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả họat động trong phạm vi công ty, do đó giúp các chiến lược kinh doanh, chiến lược cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu. Các chiến lược kinh doanh theo cách tiếp cận thị trường: Sự hình thànhcác loại chiến lược theo căn cứ này trong thực tế rất đa dạng và phong phú tuỳ theo trạng thái của mỗi doanh nghiệp mà triển khai chiến lược của mình. Chiến lược tăng trưởng tập trung gồm có: - Thâm nhập thị trường - Phát triển thị trường - Phát triển sản phẩm Chiến lược phát triển hội nhập gồm có: - Hội nhập dọc ngược chiều - Hội nhập dọc thuận chiều - Hội nhập ngang Chiến lược phát triển đa dạng hóa gồm có: - Đa dạng hóa đồng tâm - Đa dạng hóa ngang - Đa dạng hóa hỗn hợp Chiến lược hướng ngoại gồm có: - Liên doanh 20 - Thuê ngoài - Mua lại - Sát nhập - Nhượng quyền Chiến lược suy giảm gồm có: - Cắt giảm - Loại bỏ 2.
Tổng quan về công ty: 2. Lịch sử hình thành: Công ty cổ phần hàng tiêu dùng Masan là công ty chuyên sản xuất và phân phối một loạt các sản phẩm thực phẩm và nước giải khát. Sản phẩm của nó bao gồm nước tương, nước mắm, tương ớt, mì ăn liền, cà phê hòa tan, ngũ cốc ăn liền, và các đồ uống đóng chai. Công ty xuất khẩu sản phẩm của mình tại Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Liên bang Nga.
Cộng hòa Séc, Ba Lan, Đức, Trung Quốc, Trung Đông, châu Á. Lào, và Campuchia. Tiền thân là CTCP Công Nghệ - Kỹ Nghệ - Thương Mại Việt Tiến (1996) chuyên về gia vị và công ty CTCP Công nghiệp – Xuất nhập Khẩu Minh Việt (2000) chuyển hoạt động trong lĩnh vực thương mại và xuất nhập khẩu. Quá trình phát triển: Vào đầu những năm 2000, Masan là công ty tiên phong trong việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nước tương và nước mắm.