Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này bài nghiên cứu trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và ý nghĩa đề tài để người đọc có cái nhìn tổng quan về luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây. Ở chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến giá trị của cổ đông và các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố có ảnh hưởng đến giá trị của cổ đông của ngân hàng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Tác giả trình bày dữ liệu nghiên cứu, phương pháp đo lường các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các kì vọng và phương pháp ước lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Kết hợp giữa các bằng chứng và kết quả ước lượng rút ra thông qua mô hình, luận văn xác định được những yếu tố nào có ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của cổ đông của ngân hàng.
Chương 5: Kết luận. Trình bày tổng quát lại kết quả, từ đó đưa ra một số khuyến nghị cho các nhà quản trị ngân hàng. Đồng thời nêu lên các hạn chế của luận văn và đưa ra hướng phát triển cho đề tài trong tương lai. Ý nghĩa đề tài Luận văn đóng góp về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn: - Về mặt lý luận: Luận văn bổ sung các nghiên cứu về các yếu tố quyết định giá trị của cổ đông của ngân hàng TMCP dưới nhiều góc độ khác nhau, nhất là tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng các tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động truyền thống để đại diện cho giá trị của cổ đông.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn tìm ra bằng chứng thực nghiệm trong việc xác định các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến giá trị của cổ đông, từ đó giúp các nhà quản trị ngân hàng có thể chủ động hơn trong việc kiểm soát giá trị của cổ đông theo như các mong muốn của nhà quản trị ngân hàng trong từng thời kỳ. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Giá trị của cổ đông Theo Luật doanh nghiệp 2014, Cổ đông (shareholder): là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần. Theo Wenner và Leber (1990): Giá trị cổ đông (shareholder value) được quyết định bởi giá trị hiện tại ròng của các dòng tiền luân chuyển, được chiết khấu với chi phí vốn, nói cách khác, giá trị cổ đông là giá trị của doanh nghiệp sau khi đã khấu trừ các khoản nợ Theo Pablo Fernández (2002): Giá trị cổ đông là sự so sánh giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách trên số lượng cổ phần.
Khi giá trị thị trường vượt trội giá trị sổ sách, giá trị cổ đông sẽ được tạo ra, khi giá trị sổ sách vượt trội giá trị thị trường, giá trị cổ đông sẽ bị mất đi. Giá trị thị trường chứng khoán của một công ty niêm yết chính là giá trị thị trường của công ty và được đo lường bởi nhân giá cổ phiếu với số lượng cổ phiếu. Sự gia tăng của giá trị thị trường trong một năm tài chính là giá trị thị trường vào cuối năm trừ đi giá trị thị trường ở đầu năm. Giá trị thị trường có đôi khi cũng được gọi là vốn hóa.
Lý thuyết giá trị cổ đông bắt nguồn từ những năm 1950 và 1960, giá trị cổ đông được xem như là kết quả của một công trình được biết đến với cái tên là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), mô hình này lập luận rằng cả tỷ suất sinh lợi nhận được và kỳ vọng của nhà đầu tư có liên quan đến rủi ro phát sinh do việc nắm giữ các tài sản tài chính. Có thể hiểu theo một cách thông thường, rủi ro càng cao thì tỷ suất sinh lợi phải càng cao. Mô hình CAPM nhận được nhiều sự quan tâm của các cổ đông trên thế giới 8 là nhờ vào yếu tố chiết khấu có trọng số rủi ro, yếu tố này cho phép đánh giá được giá tỷ trọng hiện tại và sự phát triển, lợi nhuận và dòng tiền trong tương lai. Rappaport (1986) truyền bá khá niệm “giá trị cổ đông” bằng cách biên soạn sách có tên “Creation Shareholder Value”.
Rappaport (1986) giải thích chi tiết cách tạo ra giá trị cổ đông khác với các đo lường truyền thống như lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận sau thuế trên đầu tư (ROI) và chứng minh rằng phương pháp đo lường giá trị cổ đông này vượt trội hơn so với các cách đo lường truyền thống như các nghiên cứu trước đây đề cập. Sau đó, phương pháp đo lường giá trị cổ đông này nhận được nhiều sự thẩm định với ấn phẩm định giá được công bố bởi Tom Copelan và các ấn phẩm khác từ Tập đoàn McKinsey. Các tác giả đều cho rằng việc áp dụng giá trị cổ đông cho công ty là khả thi và mang đến nhiều lợi ích không chỉ cho các cổ đông mà còn cho các bên liên quan khác (Black và các cộng sự, 1998). Tác giả cho rằng tổng lợi nhuận của cổ đông phải lớn hơn chi phí vốn cổ phần thì mới thật sự tạo ra giá trị.
Hogan và các cộng sự (1999) khẳng định rằng trong môi trường cạnh tranh, giá trị cổ đông được tạo ra khi công ty đầu tư vào các dự án có thể kiếm được sinh lời vượt trội hơn phần chi phí vốn. Gần đây, giá trị cổ đông được sử dụng nhiều trong việc định giá ngân hàng chẳng hạn như Wittrup và Jensen (2012) khẳng định rằng việc sử dụng giá trị cổ đông dựa trên yếu tố quản trị ngân hàng trong công tác dự báo có thể giúp kiềm chế vấn đề khủng hoảng tài chính trong tương lai. Theo Gross (2006), phương pháp đo lường giá trị của cổ đông không chỉ quan trọng trong chiến lược quản trị của ngân hàng, mà còn 9 đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông của các ngân hàng, đây là vấn đề rất quan trọng để các ngân hàng có thể tồn tại. Khi các ngân hàng tăng trưởng bởi sự tiếp cận với vốn chủ sở hữu, việc tối đa hóa giá trị của cổ đông sẽ giúp các ngân hàng có thể thu hút vốn đầu tư từ các vốn chủ sở hữu (Gross, 2006).
Tạo ra giá trị cổ đông không có nghĩa là tối đa hóa giá cổ phiếu; quản lý các khoản thu nhập hay làm bất cứ điều gì để tạo ra lợi nhuận. Giá trị cổ đông được điều khiển bởi dòng tiền tự do dài hạn. Giá trị cổ đông được tạo ra khi lợi nhuận dài hạn lớn hơn chi phí vốn và ngược lại. Lợi nhuận cao không phải luôn luôn tạo ra giá trị.
Bốn yếu tố tạo ra giá trị cổ đông: + Những giả định dựa trên các chiến lược của doanh nghiệp + Hiệu quả của danh mục sản phẩm của doanh nghiệp + Mức độ tăng trưởng tiềm năng của doanh nghiệp + Những ưu tiên và mục tiêu của doanh nghiệp. Theo Worthington và West, 2011, các tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động (chẳng hạn như thu nhập sau thuế, EPS, ROE và ROA …) được sử dụng bởi các cổ đông và các nhà đầu tư tiềm năng với mục đích đánh giá ngân hàng và do đó dự báo hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong tương lai. Fiordelisi và Molyneux (2010) khẳng định rằng các nghiên cứu phân tích giá trị của cổ đông thường tập trung vào việc phát triển và so sánh các cách đo lường mới của hiệu quả hoạt động của ngân hàng (nghiên cứu của O’Hanlon và Peasnell, 1998; Garvey và Milbourn, 2000; Fernandez, 2001), đánh giá các giá trị cổ đông dựa vào các đặc điểm khác của công ty chẳng hạn như các cách đo lường hiệu quả hoạt động, thông tin kế toán,. Stewart (1991) đã xuất bản ấn phẩm mang tên “the Quest for Value” với việc đề xuất ý tưởng giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added), một khái niệm mới mang tính đột phát được phát triển bởi chuyên gia tư vấn Mỹ Stern Stewart để xác định và theo dõi các nguồn tạo ra giá trị mà không thể được giải thích bởi các đo lường tài chính truyền thống cũng như kế toán truyền thống.
Mặc dù xuất hiện khái niệm mới, nhưng cơ bản EVA được biết đến với khái niệm quen thuộc mang tên thu nhập còn lại (Residual income). EVA đơn giản chỉ là thu nhập hoạt động sau thuế đã điều chỉnh trừ đi một vài khoản phí. Mặc dù khái niệm EVA đã xuất hiện trong lĩnh vực tài chính tương đối sớm vào năm 1989 (Finegan, 1989), nhưng vào thời điểm ấy nó vẫn chưa nhận được nhiều sự chú ý mãi đến khi bài viết được xuất hiện trên tạp chí Fortune vào ngày 20 tháng 9 năm 1993 (Tully, 1993). Worthington và West (2001); Malmi và Ikaheimo (2003); McLaren (2005); Fiordelisi và Molyneux (2010); Celik và Aslanertik (2011); Reddy và các cộng sự (2011); Wittrup và Jensen (2012); Bistrova và Lace (2012); Arif và các cộng sự (2012) cũng cho rằng sử dụng chỉ số giá trị kinh tế tăng thêm EVA để đại diện giá trị của cổ đông ngân hàng bởi vì nó là cách đo lường phổ biến và đáng tin cậy nhất hiện nay đối với giá trị của cổ đông.1 Giá trị kinh tế tăng thêm EVA Theo định nghĩa của Công ty Stern Stewart: “Giá trị kinh tế tăng thêm là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động trước lãi vay sau thuế và chi phí sử dụng vốn”.
Thuật ngữ EVA xuất hiện từ sớm năm 1989 (Finegan, 1989). Tuy nhiên, nó nhận được ít sự quan tâm cho đến tháng 9/2003 khi bài báo trong tạp chí Fortune 11 (Tully, 1993) cung cấp một mô tả chi tiết khái niệm EVA, do Stern Stewart thực hiện, và những áp dụng EVA thành công của các tập đoàn lớn ở Mỹ. Ưu điểm nổi bật nhất của thước đo EVA là có tính tới chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, đây là chi phí cơ hội khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh này thay vì lĩnh vực kinh doanh khác, qua đó có thể xác định chính xác giá trị thực sự được tạo ra cho các nhà đầu tư, cổ đông trong một thời kỳ nhất định. Giá trị kinh tế giá tăng EVA như một sự đổi mới trong những thước đo thành quả nội bộ và bên ngoài.