Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Chương này trình bày các lý thuyết, học thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp, các yếu tố tác động đến căng thẳng nghề nghiệp, tình hình nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này bao gồm khung phân tích, mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, mô tả dữ liệu và phương pháp phân tích dữ 6 liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này diễn giải, mô tả các dữ liệu đã thu thập từ cuộc khảo sát và phân tích, xác định các yếu tố tác động đến căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này tóm tắt những kết luận từ kết quả mà đề tài đạt được, đưa ra một số kiến nghị cho nhà quản lý, chỉ ra một số hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai. Luận văn thạc sĩ Kinh tế 7 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Khái niệm căng thẳng nghề nghiệp Leka và cộng sự (2003) đã đưa ra định nghĩa về căng thẳng nghề nghiệp như sau: căng thẳng nghề nghiệp được định nghĩa bởi một loạt các phản ứng xảy ra khi người lao động phải đối mặt với sự chênh lệch giữa nhu cầu công việc, kiến thức, kỹ năng và khả năng của họ.
Thực chất, căng thẳng nghề nghiệp là một biểu hiện tâm lý của tình trạng căng thẳng hay căng thẳng nói chung của con người xét trong bối cảnh môi trường lao động. Hay đơn giản nói về căng thẳng nghề nghiệp thực chất là sự nghiên cứu sâu hơn về khái niệm căng thẳng trong môi trường lao động. Những năm 1936, lần đầu tiên Hans Selye nói về khái niệm căng thẳng từ góc độ y tế (Benoliel, et al. Ông nói rằng khi cơ thể trải qua sự căng thẳng, nó đi qua 3 giai đoạn khác nhau: nhận ra căng thẳng, đôi khi có thể cùng nghĩa với việc nhận ra tác nhân gây căng thẳng (phản ứng báo động), chống đỡ căng thẳng khi cơ thể cố Luận văn thạc sĩ Kinh tế gắng thích nghi với các yêu cầu đặt ra, và cuối cùng là kiệt sức khi không có khả năng thích ứng.
Căng thẳng là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng. Đó là những phản ứng nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bất lợi để đảm bảo duy trì và thích nghi thoả đáng của cơ thể trước những điều kiện sống luôn luôn biến đổi. Khi một người mất khả năng thích nghi thì căng thẳng có thể phát huy tác dụng và người đó mắc bệnh. gọi đó là những phản ứng thích nghi.
Selye đã xác định được hậu quả y học của căng thẳng lên hệ thống miễn dịch, hệ thống dạ dày, ruột và các tuyến thượng thận. Người ta cũng xác định được các quá trình tâm lý và nhận thức tham gia vào các phản ứng căng thẳng. Richard Lazarus, khoảng những năm 1966 đã xây dựng một lý thuyết về cách con người đối phó với tình huống căng thẳng (Benoliel, et al. Giống như Selye, ông cho rằng mỗi người đối diện với tình huống căng thẳng rất khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức tình huống của người đó.
Ông cho rằng sự căng thẳng xuất hiện như là sự mất cân bằng về nhu cầu và nguồn lực đáp ứng. 8 Như vậy, sử dụng định nghĩa của Leka và các cộng sự (2003) về căng thẳng nghề nghiệp: “Căng thẳng nghề nghiệp là trạng thái của một loạt các phản ứng xảy ra khi người lao động phải đối mặt với sự chênh lệch giữa nhu cầu công việc, kiến thức, kỹ năng và khả năng của họ”.2 Khái niệm nhân viên y tế Theo thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 nói về nhân viên y tế là công chức, viên chức, người đang làm chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ sở y tế. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 thì nhân viên y tế là "tất cả mọi người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe" (World Health Organization, 2006). Bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế như bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm - cũng như quảnlý và công nhân hỗ trợ - chẳng hạn như quản lý bệnh viện, các quan chức tài chính, đầu bếp, bảo trì sửa chửa và nhân viên vệ sinh”.
Như vậy, trong nghiên cứu của đề tài, nhân viên y tế được hiểu là: tất cả Luận văn thạc sĩ Kinh tế những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân”.3 Khái niệm căng thẳng của nhân viên y tế Từ khái niệm về căng thẳng và khái niệm nhân viên y tế nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, căng thẳng của nhân viên y tế được định nghĩa như sau: căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế là trạng thái căng thẳng trong quá trình hoạt động, làm việc trong lĩnh vực y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe toàn dân, là phản ứng của NVYT được thể hiện qua sự trải nghiệm về thể chất và tâm lý dưới tác động của các tác nhân vượt quá khả năng ứng phó bình thường của NVYT có thể ảnh hưởng đến các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội.2 Nguyên nhân căng thẳng và căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế 2. Nguyên nhân căng thẳng Nói về nguyên nhân căng thẳng thì có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. 9 Căng thẳng sinh thái: Là căng thẳng mà yếu tố gây nên có nguồn gốc sinh thái. Nó phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên trong và môi trường bên ngoài chủ thể.
Căng thẳng sinh thái gồm căng thẳng rối loạn chu kỳ thời gian sinh học, căng thẳng rối loạn ăn và ngủ, căng thẳng do chấn thương và bệnh tật, căng thẳng do tiếng ồn và tác hại vật lý chất độc. Ở đây, con người cần được xem như sinh vật đã được lập trình sẵn để phản ứng khác nhau với những tình huống nhất định. Căng thẳng sinh thái rất ít bị ảnh hưởng bởi ý thức con người nên rất khó kiểm soát chúng. Căng thẳng do chấn thương bệnh tật: Là một trong những nguyên nhân gây nên căng thẳng sinh thái, vì nó trực tiếp làm tổn hại suy giảm đến chức năng hoạt động của thực thể, tuy nhiên mức độ còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố tâm lý của chủ thể.
Nếu người bị căng thẳng được giải thích cặn kẽ, về triệu chứng của bệnh thì các triệu chứng này lại ít gây căng thẳng. Ngược lại, nếu thông tin về triệu chứng bệnh càng mù mờ, chỉ nhấn mạnh đến đau đớn mà họ phải chịu đựng thì sự căng thẳng Luận văn thạc sĩ Kinh tế của người bệnh tăng cao và có tác động như một yếu tố gây căng thẳng làm cho bệnh nặng thêm. Đặc biệt là sự tự ám thị không có căn cứ của chủ thể là một trong những nguyên nhân gây nên căng thẳng bệnh tật. Căng thẳng do tiếng ồn và các tác động vật lý, sinh hóa: Đó là những nguyên nhân gây nên căng thẳng sinh thái.
Bởi nó tác động và gây trở ngại cho các hoạt động cần thiết của con người. Có nhiều nguyên nhân cho thấy sự tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn, có cường độ cao, có thể làm tăng huyết áp, giảm trí nhớ. Kết hợp các tác hại vật lý còn có những tác hại của sinh hóa như nhiễm độc. Căng thẳng tâm lý – xã hội: Các yếu tố tâm lý – xã hội tác động gây nên căng thẳng.
Theo Holme Và Rahe (1976). Trong các biến cố của xã hội hoặc cuộc sống thì ngay cả tác động của những biến cố được xem là rất lý tưởng có thể gây ra sự khởi phát căng thẳng. Thường không phải chỉ một tác động đơn độc gây nên căng thẳng, mà còn có sự tương tác của nhiều tác động và như vậy hoặc làm cho khả năng thích ứng tốt hơn hoặc mức độ căng thẳng nặng hơn. 10 Căng thẳng sinh lý: Học thuyết hành vi đưa ra mô hình ( S-R) kích thích – phản ứng.
Quan điểm này nhấn mạnh đến những đáp ứng thần kinh và thể dịch. Nguyên nhân căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế Từ những cơ sở lý luận nêu trên cho chúng ta thấy rằng, có rất nhiều nguyên nhân gây stress nói chung, nhưng trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu một số nguyên nhân đặc trưng gây ra căng thẳng nghề nghiệp cho NVYT bao gồm: - Những nguyên nhân trong công việc: theo nhiều nghiên cứu về tình trạng stress của NVYT thì các yếu tố đặc thù trong công việc gây stress cho NVYT như công việc có độ nguy hiểm cao, sự chuyển đổi công việc thường xuyên, chăm sóc quản lý quá nhiều bệnh nhân, tình trạng thiếu nhân lực, chịu nhiều áp lực tạo nên không chỉ môi trường làm việc nặng nhọc, nguy hiểm mà còn tạo nên tâm lý căng thẳng khi làm việc, điều kiện lao động không an toàn, không phù hợp, công việc có độ nguy hiểm cao, khối lượng công việc nhiều là những yếu tố góp phần gây stress Luận văn thạc sĩ Kinh tế cho NVYT. - Về phương diện tổ chức: như tổ chức sắp xếp công việc chưa hợp lý, sự phân công công việc không rõ ràng, công việc gây nhàm chán, sự quản lý không hiệu quả từ cấp trên, phải kiêm nhiệm nhiều việc một lúc, chưa được huấn luyện chuyên môn đầy đủ. Đối với thời gian làm việc như chế độ trực ca kíp, trực đêm nhiều, thường phải làm việc quá giờ, không có thời gian để nghĩ ngơi đầy đủ, áp lực gần đến hạn phải hoàn thành công việc, không đủ thời gian để hoàn thành nhiệm vụ.
Sự phát triển nghề nghiệp chưa tương xứng, cộng đồng không đánh giá cao và ít biết đến công việc của mình, vị trí xã hội chưa được tôn trọng so với những đóng góp, ít có cơ hội thăng tiến. - Những nguyên nhân về mối quan hệ tại nơi làm việc: các yếu tố đã góp phần gây ra căng thẳng cho NVYT là đặc điểm công việc phải giải thích với nhiều người, bị quấy rối hay bị phân biệt đối xử, mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp.