chương 1, tác giả đã tổng quan được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và đóng góp thực tiễn của đề tài. Kết cấu của để tài gồm 5 chương sẽ được chỉ tiết ở những phần tiếp theo. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, luận văn trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về khả năng trả nợ vay. Sau đó xác định mô hình nghiên cứu thực nghiệm và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu.
Một số khái niệm 2. Khái niệm nông nghiệp, nông dân và nông thôn Theo Đỗ Kim Chung (2010) thì nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sử dụng đất đai và sinh vật làm ra sản phẩm nông nghiệp. Cách định nghĩa này chỉ dừng lại ở sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu của xã hội với nông nghiệp càng cao.
Nông nghiệp không chỉ đơn thuần là sản xuất ra các sản phâm tươi sống mà còn bao gồm cả khâu chế biến, tiếp thị (marketing) và tiêu thụ nông sản. Do vậy, sản phâm cuối cùng của nông nghiệp không đơn thuần là nông sản (agro-products) mà thực phẩm nông sản (agrofoods) (Đỗ Kim Chung 2002). Do đó, nông nghiệp cần được định nghĩa ở phạm vi rộng hơn. Nông nghiệp là ngành sản xuất — kinh doanh làm ra thực phẩm nông sản, bao gom cả sản xuất nông nghiệp, chế biến, marketing và phân phối các thực phẩm nông sản.
Chủ thể của các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp là nông dân. Theo nghĩa thông thường, nông dân là những người tham gia sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế, rất nhiều nông dân, ngoài việc tham gia vào sản xuất nông nghiệp vẫn tham gia vào các hoạt động kinh tế khác như sản xuất tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và dịch vụ. Nông thôn càng phát triển thì cơ cầu ngành nghề trong nông thôn càng đa dạng.
Do đó, khái niệm về nông dân cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nông dân là những người dân sống ở nông thôn làm các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ khác nhau tuỳ theo khả năng và lợi thể so sánh của họ (Đỗ Kim Chung 2010). 10 Khu vực của nền kinh tế mà trong đó các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp được tiến hành là nông thôn. Nông thôn là khu vực khác với thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm cộng đồng và sinh thái.
Nông thôn gắn liền với đời sống, tập tục và bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hoá, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghiệp và hạ tầng cơ sở. Vì thế phát triển nông thôn phải bao gồm phát triển cả kinh tế, xã hội, tổ chức và môi trường (Đỗ Kim Chung 2010). Khái niệm về tín dụng - Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) thì tín dụng vốn là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật trên nguyên tắc người đi vay hoặc tô chức đi vay phải hoàn trả cho người hoặc tổ chức cho vay cả nợ gốc lẫn tiền lãi sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Căn cứ theo thời gian thì Nguyễn Văn Tiến (2005) đã phân loại tín dụng như sau: + Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng dé: (i) bu dap thiếu hụt vốn lưu động tạm thời; (1) phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân. + Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiễn và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng các nhu 11 cau dau tu dai han.
- Nguyễn Văn Tiến (2015) thì cho rang cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, trong đó: + Thời hạn cho vay: Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Thời gian trả nợ: Là khoảng thời gian từ ngày khách hàng nhận tiền vay lần đầu tiên cho đến ngày trả nợ gốc và/hoặc lãi lần đầu. + Kỳ hạn trả nợ: Là khoảng thời gian tính từ ngày khách hàng trả nợ gốc và/hoặc lãi lần đầu tiên cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi. + Dư nợ cho vay: Là số tiền mà khách hàng đang còn nợ ngân hàng đến tại một thời điểm nhất định.
+ Lãi suất của khoản vay là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn trong một đơn vị thời gian nhất định. - Theo Đoàn Thanh Hà và Hoàng Thị Thanh Hằng (2013) thì cho vay nông nghiệp là việc Ngân hàng hỗ trợ tài chính cho các cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản,. Như vậy hoạt động cho vay nông dân là mỗi quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nông dân, tổ chức tín dụng sẽ sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động nhằm cung cấp tín dụng để nông dân sản xuất kinh doanh nếu nông dân đáp ứng đủ điều kiện của tổ chức tín dụng và thỏa mãn các điều kiện ký kết trong hợp đồng ký kết giữa hai bên. Khái niệm về hoạt động cho vay nông nghiệp Đối tượng cho vay nông nghiệp: Hiện tại BIDV - Chi nhánh Đồng Tháp cho vay đối với các đối tượng trong lĩnh vực nông nghiệp như sau: - Vật tư nông nghiệp, chi phí trồng trọt, chăn nuôi.
- Kinh doanh mua bán nông sản; kinh doanh mua bán phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn và thuốc thú y, thủy sản. - Cải tạo hoặc mở rộng qui mô sản xuất, chăn nuôi. Đặc trưng cơ bản trong cho vay nông nghiệp: - Tính thời vụ: Trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp. Tính thời vụ được biểu hiện trong những mặt sau: + Vụ, mùa trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ.
Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào một số cây trồng hay vật nuôi nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch, tiêu thụ tiễn hành thu nợ. + Chu kỳ sinh sống tự nhiên của cây trồng hoặc vật nuôi là yếu tố quyết định để tính toán thời hạn cho vay. Chu kỳ ngắn hạn hay dài hạn phụ thuộc vào loại cây trồng hoặc vật nuôi và quy trình sản xuất. Ngày nay, công nghệ về sinh học cho phép lai tạo nhiều giống mới cho ra năng suất và sản lượng cao hơn và thời gian trưởng thành ngắn hơn.
- Chi phí tổ chức cho vay cao: Chi phí tổ chức cho vay có liên quan đến nhiều yếu tố như chỉ phí tổ chức mạng lưới, chi phí cho việc thâm định, theo dõi khách hàng/món vay, chỉ phí phòng ngừa rủi ro. Cụ thể là: + Cho vay nông nghiệp đặc biệt là cho vay nông dân thường thì chi phí nghiệp vụ cho mỗi đồng vốn vay là khá cao do quy mô từng món vay nhỏ. + Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi nên mở rộng cho vay 13 thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ (mở chi nhánh, phòng giao dịch, tổ cho vay tại xã,. + Ngành nông nghiệp có độ rủi ro tương đối cao (thiên tai, dịch bệnh,.) nên chỉ phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác.
- Ảnh hưởng từ môi trường tự nhiên đến thu nhập và khả năng trả nợ của hộ nông dân. + Đối với nông dân là sản xuất —- kinh doanh nông nghiệp thì nguồn trả nợ vay cho ngân hàng chủ yếu có liên quan đến sản phẩm thu hoạch là nông sản. Như vậy, sản lượng nông sản mà nông dân thu hoạch được sẽ là một trong những yếu tố quyết định cho khả năng trả nợ của nông dân. Tuy nhiên sản lượng nông sản lại chịu ảnh hưởng tác động của thiên nhiên, đặc biệt là những yếu tố như đất, nước, nhiệt độ, thời tiết, khí hậu.
Vì vậy, khi một trong những yếu tổ tác động đó đột ngột thay đôi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng thu hoạch của hộ nông dân, làm giảm lợi nhuận hoặc mắt trắng phần vốn đã bỏ ra. + Bên cạnh đó, yếu tố tự nhiên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cả của mặt hàng nông sản (thời tiết thuận lợi cho vụ mùa bội thu, nhưng giá nông sản lại bị hạ thấp,. Điều này gây ảnh hưởng lớn tới khả năng trả nợ của nông dân. Khái niệm về khả năng trả nợ của khách hàng Đề xác định và định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, trước tiên cần phải làm rõ các quan điểm liên quan đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Xét trong mối quan hệ tín dụng ngân hàng, “khả năng trả nợ của khách hàng” là việc đánh giá khách hàng có thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không. Phương pháp xác định khả năng trả nợ của khách hàng thường được dựa trên một tiêu chuẩn nhất định do ngân hàng lựa chọn như dựa trên đặc điểm của khách hàng như năng lực tài chính, thiện chí trả nợ của 14 khách hàng khi chưa phát sinh nghĩa vụ nợ hoặc/và dựa trên đặc điểm của khoản nợ như lịch sử thanh toán nợ, tình trạng trả nợ thực tế của khách hàng.