Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu nội dung của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trình bày các lý thuyết liên quan, các kết quả nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của các tác giả trước đó, từ đó lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp. 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả Tiến hành phân tích kết quả, chạy mô hình hồi quy và kiểm định các mối quan hệ giữa các biến trong mô hình sau đó đưa ra nhận định. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ kết quả của mô hình nghiên cứu, đề xuất những chính sách nhằm cải thiện thương mại nội ngành hàng dệt may của Việt Nam và một số quốc gia thành viên APEC.
5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Với phần định hướng nghiên cứu ở chương giới thiệu, luận văn tập trung nghiên cứu những lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan đến phạm vi của đề tài. Chương này sẽ cung cấp những nền tảng lý thuyết, cơ sở khoa học nhằm đảm bảo tính chính xác cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu trong đề tài.1 Thương mại nội ngành Grubel và Lloyd (1975), đề cập đến một thuật ngữ thương mại mới được gọi là thương mại nội ngành (Intra Industry Trade). Thương mại nội ngành là việc trao đổi hàng hoá trong cùng một ngành. Việc nghiên cứu thương mại nội ngành là quan trọng bởi vì nó kích thích sự đổi mới và khai thác kinh tế theo quy mô để có được lợi nhuận trong thương mại.
Theo Grubel-Lloyd (1975), công thức tính chỉ số thương mại nội ngành như sau: |𝑋𝑖𝑗𝑘 − 𝑀𝑖𝑗𝑘 | 𝐼𝐼𝑇𝑖𝑗𝑘 = 1 − (𝑋𝑖𝑗𝑘 + 𝑀𝑖𝑗𝑘 ) Trong đó: IITijk: chỉ số thương mại nội ngành mặt hàng k của nước i với nước đối tác j. Xijk: giá trị xuất khẩu mặt hàng k của nước i với nước đối tác j. Mijk: giá trị nhập khẩu mặt hàng k của nước i với nước đối tác j.2 Khác biệt về quy mô kinh tế giữa hai quốc gia (DGDP) Balassa và Bauwens (1987), không sử dụng giá trị tuyệt đối của sự khác biệt giữa hai nước về quy mô kinh tế vì giá trị tuyệt đối của sự khác biệt sẽ phải chịu một sự thay đổi đơn vị đo lường. Thay vào đó, có thể sử dụng công thức sau đây để xác định sự khác biệt về quy mô kinh tế giữa hai quốc gia một cách tương đối: 6 𝑤𝐿𝑛𝑤 + (1 − 𝑤)𝐿𝑛(1 − 𝑤) 𝐷𝐺𝐷𝑃𝑖𝑗 = 1 + 𝐿𝑛2 Trong đó: 𝐺𝐷𝑃𝑖 𝑤= 𝐺𝐷𝑃𝑖 + 𝐺𝐷𝑃𝑗 𝐺𝐷𝑃𝑖 : GDP của quốc gia i trong thời gian t 𝐺𝐷𝑃𝑗 : GDP của quốc gia j trong thời gian t Công thức trên cho thấy, khi w nhận giá trị bằng 1/2, giá trị DGDP sẽ tiến gần về giá trị 0, mức độ khác biệt về quy mô kinh tế bằng 0.
Khi w tiến gần về 0 hoặc 1, DGDP sẽ tiến dần về giá trị đơn vị, sự khác biệt về quy mô kinh tế là vô cùng.3 Khác biệt thu nhập bình quân đầu người giữa hai quốc gia Balassa và Bauwens (1987), không sử dụng giá trị tuyệt đối của sự khác biệt giữa hai nước cho thu nhập bình quân đầu người vì giá trị tuyệt đối của sự khác biệt sẽ phải chịu một sự thay đổi đơn vị đo lường. Thay vào đó, có thể sử dụng công thức sau đây để xác định sự khác biệt trong thu nhập bình quân đầu người một cách tương đối của một quốc gia với một quốc gia đối tác: 𝑤𝐿𝑛𝑤 + (1 − 𝑤)𝐿𝑛(1 − 𝑤) 𝐷𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝑖𝑗 = 1 + 𝐿𝑛2 Trong đó: 𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝑖 𝑤= 𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝑖 + 𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝑗 𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝑖 : thu nhập bình quân đầu người của quốc gia i trong thời gian t 𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶𝑗 : thu nhập bình quân đầu người của quốc gia j trong thời gian t Công thức trên cho thấy, khi w nhận giá trị bằng 1/2, giá trị DGDPPC sẽ tiến gần về giá trị 0, mức độ khác biệt về thu nhập bình quân đầu người bằng 0. Khi w 7 tiến gần về 0 hoặc 1, DGDPPC sẽ tiến dần về giá trị đơn vị, sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người là vô cùng.4 Chỉ số RCA Để phân tích lợi thế so sánh của một số mặt hàng/ngành hàng, chỉ số lợi thế so sánh (gọi tắt là RCA) đặc biệt hữu ích và thường xuyên được sử dụng trong phân tích chính sách. Theo World Integrated Trade Solution (WITS), RCA là thước đo của một quốc gia có lợi thế hoặc bất lợi tương đối trong một ngành công nghiệp cụ thể được chứng minh bằng các luồng thương mại.
RCA <1, bất lợi so sánh trong một ngành công nghiệp cụ thể. RCA >1, có lợi thế so sánh tương đối. Theo Balassa (1965, 1977), chỉ số RCA (Revealed Comparative Advantage Index) được tính như sau: 𝑋𝑖𝑗 𝑋 𝑅𝐶𝐴 = 𝑤𝑗⁄𝑋 𝑖𝑚 𝑋𝑤𝑚 Trong đó: X đại diện cho giá trị xuất khẩu, i đại diện cho quốc gia cụ thể, w đại diện cho Thế Giới, j sản xuất sản phẩm, m tổng sản xuất.5 Tỷ giá Theo Mankiw (2010), cho rằng tỷ giá gồm 2 loại như sau: Tỷ giá danh nghĩa: là giá tương đối giữa đồng tiền của hai quốc gia. Trong đó, có hai phương pháp yết giá tỷ giá hối đoái trên thị trường như sau: yết giá trực tiếp là phương pháp biểu thị giá trị một đơn vị ngoại tệ thông qua một số lượng nội tệ nhất định; yết giá gián tiếp là phương pháp biểu thị giá trị một đơn vị nội tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.
8 Tỷ giá hối đoái thực: là giá tương đối của hàng hóa hai quốc gia, nghĩa là tỷ giá hối đoái thực cho biết tỷ lệ mà dựa vào đó hàng hóa của một quốc gia được trao đổi với hàng hóa của quốc gia khác. Khi có nhiều hàng hóa trong hoạt động ngoại thương, mức giá dùng để tính tỷ giá hối đoái thực là chỉ số giá. Có nhiều loại tỷ giá, trong bài này đề cặp đến một số loại: tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực, tỷ giá song phương và tỷ giá bình quân. Martine (1986), trong hầu hết các trường hợp, tỷ giá hối đoái bình quân được hiểu là số bình quân gia quyền của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong tổng kim ngạch ngoại thương của nước đó.
Công thức tính tỷ giá bình quân có thể được biểu diễn như sau: EE = Ei*Wi Trong đó: EE là tỷ giá bình quân Ei là tỷ giá song phương với nước i Wi là tỷ trọng thương mại của nước i trong tổng giá trị thương mại của nước đang xét. Martine (1986), tỷ giá danh nghĩa song phương liên quan đến tiền tệ giữa hai quốc gia và nó được thiết lập trên thị trường tiền tệ. Trong khi đó, tỷ giá danh nghĩa bình quân là tỷ giá chuyển đổi của đồng nội tệ với những đồng tiền ngoại tệ khác và nó được xác định bằng tỷ trọng của đồng ngoại tệ trong giao dịch thương mại và thanh toán quốc tế của quốc gia đó. Theo Alam (2010), tỷ giá thực đóng vai trò quan trọng trong các khái niệm về kinh tế.
Tỷ giá thực cho thấy mức độ cạnh tranh của một quốc gia, qua chỉ số này, ta biết được giá hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia như thế nào so với những hàng hóa và dịch vụ tương ứng tại các quốc gia khác. Tỷ giá thực (r) thông thường được 9 tính bằng cách điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa (e) bằng tỷ số giữa giá của đồng ngoại tệ (Pf) với giá của đồng nội tệ (P): 𝑃𝑓 r = e* 𝑃 Vì thế, tỷ giá song phương hay bình quân thực là tỷ giá song phương hay bình quân danh nghĩa được điều chỉnh bằng tỷ lệ giữa giá nước ngoài và giá trong nước.6 Rào cản kỹ thuật Theo Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), trong thương mại quốc tế, các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (Technical Barriers To Trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (gọi chung là các biện pháp kỹ thuật). Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khỏe con người, môi trường, an ninh. Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập, duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu.
Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi những rào cản kỹ thuật này có thể được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Biến rào cản kỹ thuật được đo lường bằng biến công cụ Frequency Index (FI): 𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑙𝑢ồ𝑛𝑔 𝑛ℎậ𝑝 𝑘ℎẩ𝑢 𝑏ị ả𝑛ℎ ℎưở𝑛𝑔 𝑏ở𝑖 𝑟à𝑜 𝑐ả𝑛 𝑘ỹ 𝑡ℎ𝑢ậ𝑡 𝐹𝑟𝑒𝑞𝑢𝑒𝑛𝑐𝑦 𝐼𝑛𝑑𝑒𝑥 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙𝑢ồ𝑛𝑔 𝑛ℎậ𝑝 𝑘ℎẩ𝑢 10 2.7 Độ mở thương mại Theo World Integrated Trade Solution (WITS), mở cửa thương mại hàng hóa là giá trị của thương mại hàng hóa (xuất khẩu cộng với nhập khẩu) trên tỷ lệ phần trăm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Công thức tính độ mở thương mại: 𝑋+𝑀 𝑂𝑝𝑒𝑛𝑖𝑡 = 𝐺𝐷𝑃 Trong đó: X: xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia i trong năm t M: nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia i trong năm t GDP quốc gia i trong năm t 2.2 Cơ sở lý thuyết: lý thuyết và nghiên cứu trước 2.1 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Smith (1776), lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí sản xuất để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn có thế nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn. Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế.
Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận.