Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là chiến lược phát triển toàn diện hàng đầu tại Việt Nam, nơi có khoảng 70% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn. Định hướng theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chương trình hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị với nông thôn. Tính đến tháng 6/2018, cả nước đã có trên 1.761 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 19,7% với bình quân 12,9 tiêu chí trên mỗi xã.

Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, việc triển khai vẫn đối mặt với thách thức lớn khi chưa phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân. Điển hình tại tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2015 - 2018 ghi nhận tổng nguồn vốn đầu tư đạt 36.493 tỷ đồng nhưng nguồn vốn do nhân dân đóng góp chỉ đạt 424,5 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,2%, thấp hơn rất nhiều so với định mức mục tiêu 10% theo quy định của Trung ương. Đáng chú ý, có đến 50% những khó khăn, trở ngại trong quá trình triển khai xuất phát từ việc người dân chưa nhận thức đầy đủ vai trò trung tâm của mình, vẫn còn tâm lý thụ động và trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Nguyễn Quốc Toản, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Lam tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2018), tập trung đánh giá chuyên sâu các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn 03 xã điểm: Phú Hưng, Hưng Mỹ và Hòa Mỹ thuộc huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu xác định rõ các rào cản nội tại và khách quan, từ đó cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng nhằm đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính chủ động của cộng đồng, đảm bảo tính bền vững lâu dài cho các tiêu chí nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận vững chắc về sự tham gia của cộng đồng và quản trị công hiện đại. Nền tảng cốt lõi là Thang bậc tham gia của Sherry Arnstein (1969) với 8 nấc thang phản ánh sự dịch chuyển quyền lực từ mức phi tham gia (thao túng, trị liệu), tham gia hình thức (thông tin một chiều, tham vấn, xoa dịu) đến mức độ trao quyền thực chất cho người dân (đối tác, ủy quyền, quyền kiểm soát của công dân).

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng khung phân tích 6 mức độ tham gia của Pierre André, Mania và Lanmafaukpotin (2012), bao gồm: tham gia thụ động, tham gia qua cung cấp thông tin, tham gia với tư cách nhà tư vấn, tham gia vào khâu thực hiện, tham gia vào quá trình ra quyết định và tự nguyện hành động. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp mô hình 4 cấp độ tham gia của Ngân hàng Thế giới (2000) gồm chia sẻ thông tin, tham vấn, hợp tác và trao quyền.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm: Nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia; Quy chế dân chủ cơ sở theo tinh thần Nghị định số 04/2015/NĐ-CP; và nguyên tắc quản trị 6 bước: Dân biết, Dân bàn, Dân đóng góp, Dân làm, Dân kiểm tra, Dân quản lý và Dân hưởng lợi. Ngoài ra, luận văn còn đối chiếu kinh nghiệm phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc với phương châm "Chăm chỉ - Tự lực - Hợp tác" và mô hình nông thôn mới tại Trung Quốc, nơi sự đóng góp của người dân chiếm khoảng 50% tổng mức đầu tư xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả và phân tích định lượng thực địa. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu 180 hộ gia đình phân bổ tại 03 xã Phú Hưng, Hưng Mỹ và Hòa Mỹ của huyện Cái Nước, kết hợp 15 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia, cán bộ Ban Chỉ đạo nông thôn mới cấp huyện, xã và lãnh đạo Ban phát triển ấp.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm nhân khẩu học khác nhau về độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và mức thu nhập. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 - 2015, phương hướng 2016 - 2020 của UBND huyện Cái Nước và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Cà Mau. Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan chéo là nhằm nhận diện chính xác các chiều hướng tác động của từng biến số xã hội học đến hành vi tham gia thực tế của người dân, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho các khuyến nghị chính sách. Thời gian thực hiện thu thập và xử lý số liệu diễn ra tập trung trong giai đoạn 2017 - 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện đầu tiên của luận văn chỉ ra sự phân hóa sâu sắc về mức độ tham gia theo độ tuổi của người dân. Nhóm cư dân trong độ tuổi từ 35 đến 55 tuổi có mức độ quan tâm và tham gia tích cực nhất, đạt tỷ lệ xấp xỉ 68%. Ngược lại, nhóm thanh niên dưới 35 tuổi và người cao tuổi trên 55 tuổi có mức độ tham gia rất thấp, chỉ dao động từ 22% đến 32%, nguyên nhân chủ yếu do lao động trẻ có xu hướng đi làm ăn xa hoặc học tập ngoài địa bàn, trong khi người cao tuổi gặp hạn chế về sức khỏe.

Phát hiện thứ hai cho thấy nghề nghiệp và trình độ học vấn tác động trực tiếp đến tính tự giác của đối tượng khảo sát. Nhóm cán bộ, công chức, viên chức có mức độ am hiểu chính sách và tham gia các cuộc họp đạt trên 85%, theo sau là các hộ thuần nông với tỷ lệ quan tâm khoảng 60% do quyền lợi gắn liền trực tiếp với hạ tầng thủy lợi và sản xuất. Ngược lại, nhóm làm nghề buôn bán và lao động tự do có mức độ tham gia thấp nhất, dưới 40%.

Phát hiện thứ ba chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các hình thức tham gia. Người dân tham gia đông đảo nhất ở khâu tiếp nhận thông tin và đóng góp ngày công lao động với tỷ lệ trên 70%. Tuy nhiên, ở các khâu đòi hỏi tính làm chủ cao như tham gia lập kế hoạch công trình, đóng góp kinh phí tiền mặt và tham gia Ban giám sát thi công, tỷ lệ này sụt giảm mạnh xuống dưới 25%.

Phát hiện thứ tư phản ánh tỷ lệ đóng góp tài chính của người dân huyện Cái Nước vào chương trình còn rất khiêm tốn, tương đồng với mức trung bình 1,2% của toàn tỉnh Cà Mau, tạo ra sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn ngân sách nhà nước và nguồn vốn tín dụng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được mô hình hóa sinh động thông qua hệ thống biểu đồ cột thể hiện tương quan giữa độ tuổi, nghề nghiệp với mức độ quan tâm, cùng bảng phân phối chéo phản ánh tỷ lệ tham gia theo 7 hình thức cụ thể. Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ việc mô hình kinh tế hộ tại huyện Cái Nước còn bấp bênh, phụ thuộc lớn vào độc canh nuôi tôm và dịch bệnh thủy sản, khiến thu nhập bình quân chưa tạo ra nguồn tích lũy dồi dào để người dân tự tin đóng góp vốn.

Hơn nữa, công tác tuyên truyền của chính quyền cơ sở nhiều nơi còn mang tính một chiều, hình thức, chưa tạo được diễn đàn mở để người dân thực sự tham gia vào khâu ra quyết định. Khi đối chiếu với bài học quốc tế từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc trong giai đoạn 1971 - 1978, nơi người dân tự nguyện đóng góp nguồn lực gấp 5 đến 10 lần giá trị vật tư do nhà nước hỗ trợ ban đầu, có thể thấy huyện Cái Nước chưa khai mở được động lực tự thân của cộng đồng. Tương tự, so với kinh nghiệm tại Trung Quốc khi sự tham gia của người dân đạt khoảng 50% tổng mức đầu tư nhờ cơ chế tự quản thôn làng nghiêm ngặt, cơ chế thực thi dân chủ cơ sở tại địa bàn nghiên cứu vẫn còn những khoảng trống cần hoàn thiện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới căn bản phương thức tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng. Ủy ban nhân dân huyện Cái Nước phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cần chuyển đổi từ hình thức tuyên truyền thụ động sang đối thoại trực tiếp hai chiều. Mục tiêu đến năm 2021 nâng tỷ lệ người dân nhận thức đúng đắn vai trò chủ thể từ mức 50% hiện tại lên tối thiểu 85%, xóa bỏ hoàn toàn tâm lý ỷ lại vào các khoản đầu tư công.

Thứ hai, đẩy mạnh các giải pháp phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập hộ gia đình. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cần chủ trì mở rộng các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi tôm quảng canh cải tiến, nuôi tôm siêu thâm canh và đa dạng hóa mô hình nuôi cá chình, nuôi dê. Lộ trình giai đoạn 2019 - 2023 phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người tại các xã đạt trên 45 triệu đồng/người/năm, tạo tiền đề nâng tỷ lệ đóng góp nguồn vốn của nhân dân từ mức 1,2% hiện nay lên mức tối thiểu 8% đến 10% tổng mức đầu tư hạ tầng.

Thứ ba, thể chế hóa và minh bạch hóa cơ chế dân chủ cơ sở. Ủy ban nhân dân các xã Phú Hưng, Hưng Mỹ và Hòa Mỹ cần bắt buộc công khai toàn bộ dự toán, thiết kế và tiến độ công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng tại các buổi họp ấp. Thiết lập và duy trì hoạt động thực chất của Ban giám sát đầu tư cộng đồng do người dân trực tiếp bầu ra, đảm bảo 100% công trình có sự nghiệm thu của đại diện nhân dân trước khi quyết toán.

Thứ tư, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở và xây dựng tổ chức đoàn thể vững mạnh. Ban Quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới huyện cần tổ chức các khóa bồi dưỡng kỹ năng làm việc cộng đồng và phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia cho 100% bí thư chi bộ, trưởng ấp và cán bộ chuyên trách xã trong giai đoạn 2019 - 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm cán bộ lãnh đạo, công chức tại Ủy ban nhân dân các cấp và Ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Luận văn cung cấp bức tranh thực tế về các điểm nghẽn trong quản trị công cấp cơ sở, giúp các nhà quản lý thiết kế các chính sách huy động vốn và phân bổ nguồn lực phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội địa phương.

Nhóm thứ hai là các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên tại địa phương. Các số liệu phân tầng theo độ tuổi và nghề nghiệp giúp các đoàn thể xây dựng kế hoạch vận động đoàn viên, hội viên hiến đất, góp ngày công lao động một cách thực chất và hiệu quả.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý công, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Chính sách công. Đề tài đóng vai trò như một case study điển hình với hệ thống thang đo lý thuyết chuẩn mực và phương pháp nghiên cứu thực địa bài bản tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia phát triển cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tài liệu giúp nhận diện sâu sắc rào cản hành vi và khoảng cách giữa việc ban hành quy chế dân chủ cơ sở với thực tiễn thực thi tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao sự tham gia của người dân lại mang tính chất quyết định sự thành bại của chương trình nông thôn mới?

Người dân vừa là chủ thể trực tiếp triển khai, vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả cuối cùng. Minh chứng tại Cà Mau cho thấy khi sự tham gia của nhân dân thấp, tỷ lệ huy động vốn chỉ đạt 1,2% trên tổng số 36.493 tỷ đồng đầu tư, khiến nhiều công trình giao thông sau khi hoàn thành thiếu sự chung tay quản lý, duy tu và bảo dưỡng bền vững.

Yếu tố nhân khẩu học nào ảnh hưởng rõ nét nhất đến mức độ quan tâm của người dân tại huyện Cái Nước?

Độ tuổi và nghề nghiệp là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Khảo sát tại 3 xã điểm cho thấy nhóm tuổi từ 35 đến 55 tuổi có tỷ lệ quan tâm cao nhất đạt 68%, trong khi cán bộ, công chức đạt mức độ hiểu biết và ủng hộ trên 85%, cao hơn vượt trội so với nhóm lao động tự do.

Rào cản lớn nhất hạn chế người dân tham gia vào Ban giám sát công trình là gì?

Rào cản chính là việc thiếu cơ chế công khai thông tin chi tiết và tâm lý e ngại va chạm với chính quyền. Khoảng 50% nguyên nhân bắt nguồn từ nhận thức chưa đúng về quyền làm chủ, cộng thêm việc cán bộ cơ sở chưa cung cấp đủ công cụ kỹ thuật để người dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát.

Bài học quốc tế nào từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc có thể áp dụng cho địa phương?

Đó là nguyên tắc phát huy tinh thần tự lực kết hợp trao quyền lựa chọn công trình ưu tiên cho người dân. Trong giai đoạn 1971 - 1978, Hàn Quốc đã thành công khi áp dụng công thức nhà nước chỉ hỗ trợ một phần vật tư, nhân dân tự thảo luận và đóng góp gấp 5 đến 10 lần công sức để hoàn thiện cơ sở hạ tầng.

Làm thế nào để nâng cao mức đóng góp tài chính của người dân mà không tạo gánh nặng kinh tế quá mức?

Cần gắn chặt việc xây dựng nông thôn mới với nâng cao sinh kế thông qua các mô hình thâm canh tôm đạt hiệu quả kinh tế cao. Khi thu nhập hộ dân đạt trên 45 triệu đồng/năm và các khoản chi phí được công khai, bàn bạc dân chủ, người dân sẽ tự nguyện trích kinh phí đóng góp vì lợi ích thiết thực của gia đình.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về sự tham gia của người dân trong quản trị công, vận dụng linh hoạt các mô hình của Arnstein, André và Ngân hàng Thế giới vào bối cảnh nông thôn Việt Nam.
  • Kết quả nghiên cứu thực địa tại 03 xã thuộc huyện Cái Nước chỉ ra tỷ lệ huy động vốn từ cộng đồng mới đạt 1,2%, phản ánh sự tham gia còn thiên về hình thức và tập trung chủ yếu ở khâu tiếp nhận thông tin thay vì ra quyết định hay giám sát.
  • Các yếu tố then chốt như độ tuổi (nhóm 35 - 55 tuổi tham gia đạt 68%), nghề nghiệp, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế hộ đóng vai trò quyết định đến mức độ quan tâm của người dân.
  • Nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao giai đoạn 2019 - 2023, tập trung nâng cao thu nhập bình quân, hoàn thiện thể chế dân chủ và bồi dưỡng năng lực cho 100% cán bộ cơ sở.
  • Các cấp chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách cần nhanh chóng chuyển giao quyền làm chủ thực chất cho cộng đồng thôn ấp, biến người dân thành động lực trung tâm để xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh và bền vững.