chương 1 Nghiên cứu đề tài theo phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS, các thang đo được đánh giá bằng phường pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để phân tích nhân tố khẳng định CFA. Đề tài sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng cho công tác quản trị, đáp ứng sự hài lòng của học viên để nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững cho TĐGD Việt Mỹ. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm chất lượng Theo Hiệp hội Chất lượng Hoa Kỳ (ASQ) chất lượng là toàn bộ các tính năng và đặc điểm mà một sản phẩm hay dịch vụ đem lại nhằm đáp ứng những nhu cầu đặt ra từ khách hàng, là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Chất lượng là một khái niệm đa chiều và được nhìn nhận với nhiều góc độ khác nhau, hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm về chất lượng khác nhau. Theo quan niệm của các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm/dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu tiêu chuẩn, qui cách đã được xác định trước. Từ đó, căn cứ vào một đối tượng nghiên cứu cụ thể, là chất lượng trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Như vậy, “Chất lượng là đáp ứng chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ bảo đảm thỏa mãn mong đợi của khách hàng với cách thức quản lý đúng đắn và mang lại hiệu quả cho xã hội”.2 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm khá phổ biến nên có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng các định nghĩa đều nhấn mạnh đến các đặc điểm then chốt của dịch vụ đó là sự vô hình, tính không thể tách rời, không đồng nhất và không thể tồn trữ.
Chính vì những đặc điểm này khiến cho việc đo lường, đánh giá chất lượng dịch vụ trở nên khó khăn đối với các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp. Thongsamak (2001) tổng kết các quan điểm của các nhà nghiên cứu về đặc điểm của dịch vụ cho thấy dịch vụ khó định nghĩa, mô tả hay đo lường so với các sản phẩm hữu hình là do các đặc tính sau: (i) Vô hình (Intangibility): Dịch vụ là vô hình, nó khác với sản phẩm chế tạo là hữu hình. Sản phẩm dịch vụ thuần túy là sự thực hiện, khách hàng không thể nhìn thấy, cảm nhận hoặc tiếp xúc, nếm, ngửi, nghe trước khi mua nó. (ii) Không đồng nhất (Heterogeneity): Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đồng nhất và chính xác theo thời gian mà thường hay thay đổi tùy theo thời gian thực hiện, tùy theo nhà cung cấp và tùy theo khách hàng.Đặc tính này của dịch vụ làm cho tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ không giống như là đối với các sản phẩm chế tạo.
7 (iii) Không thể tách rời (Inseparability): Trong ngành dịch vụ, cung ứng dịch vụ thường được thực hiện cùng lúc với tiêu thụ. Do đó, nhà cung cấp khó che dấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì nó không có khoảng cách thời gian từ sản xuất đến tiêu thụ như sản phẩm hữu hình. (iv) Dễ hỏng (Perishability): Khác với sản phẩm chế tạo, dịch vụ không thể tồn trữ để tiêu thụ sau đó. Điều này làm cho khó kiểm tra chất lượng trước khi cung cấp cho người tiêu dùng.
Do vậy, nhà cung cấp dịch vụ chỉ có một cách duy nhất là cung cấp đúng ngay từ lần đầu và mọi lúc đã cam kết. (v) Không thể hoàn trả (Non – returnable): Dịch vụ không thể hoàn trả, trong nhiều ngành dịch vụ, khách hàng có thể được hoàn trả lại tiền nếu không hài lòng với dịch vụ của nhà cung ứng. (vi) Không chắc chắn trong đáp ứng nhu cầu (Needs – match uncertainty): Các thuộc tính của dịch vụ kém chắc chắn hơn là sản phẩm hữu hình. Điều này dẫn tới dịch vụ khó đáp ứng nhu cầu hơn so với sản phẩm hữu hình.
(vii) Quan hệ cá nhân (Interpersonal): Dịch vụ có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi quan hệ qua lại giữa người với người hơn là sản phẩm hữu hình. Vì dịch vụ do con người thực hiện. (viii) Tính cá nhân (Personal): Khách hàng thường đánh giá cung cấp dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình. (ix) Tâm lý (Psychic): Dịch vụ tác động rất rõ đến tâm lý khách hàng.
Nếu nhân viên phục vụ thân thiện, vui vẻ, nhiệt tình thì khách hàng vẫn vui lòng với dịch vụ này. Philip Kotler và Gary Armstrong (2011) định nghĩa dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là sản phẩm không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.3 Khái niệm chất lượng dịch vụ Theo Arun Kumar G.
và Naveen Kumar H. (2012) chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong kinh doanh. Chất lượng dịch vụ được xem là phương thức tiếp cận quan trọng trong quản lý kinh 8 doanh nhằm đảm bảo sự hài lòng của khách hàng, đồng thời giúp tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành. Theo Leisen và Vance (2001) chất lượng dịch vụ giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cần thiết bởi đó là một yếu tố khác biệt có hiệu quả.
Theo Wal et al (2002) chất lượng dịch vụ đã được bắt đầu vào những năm 1980 như một xu hướng trên toàn thế giới, khi các nhà tiếp thị nhận ra rằng chỉ có sản phẩm chất lượng mới có thể được bảo đảm để duy trì lợi thế cạnh tranh. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Theo Philip Kotler và Gary Armstrong (2011) chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó.4 Đặc trưng của chất lượng dịch vụ Parasuraman & ctg, (1988,1991) và Cronin và Taylor (1992) chứng minh có 5 yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ một cách chính xác và đúng thời hạn ngay từ giao dịch đầu tiên. (2) Sự đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện sự mong muốn và sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
(3) Sự hữu hình (Tangibility): Thể hiện qua cơ sở vật chất, trang thiết bị, trang phục của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. (4) Sự đảm bảo (Assurance): Khả năng bảo đảm an toàn cho khách hàng về tài sản, bảo mật thông tin. (5) Sự đồng cảm (Empathy): Thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu của khách hàng, chăm sóc khách hàng một cách tốt nhất.5 Đánh giá chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là kết quả đánh giá của khách hàng dựa trên những tiêu chí thông qua kinh nghiệm và mong đợi của họ và những ảnh hưởng từ hình ảnh của doanh nghiệp (Caruana, 2000). Đặc điểm vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu giữ được của dịch vụ gây khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ.
Do đó, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ là cần thiết để xác định, đo lường, kiểm soát và cải thiện cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ.2 Khái niệm về dịch vụ đào tạo 2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ đào tạo Chất lượng dịch vụ đào tạo là một khái niệm mang tính tương đối và được hiểu theo người ta nhìn nhận về chất lượng ở những khía cạnh khác nhau. Học viên, đội ngũ tham gia giảng dạy hoặc không giảng dạy, chính phủ và cơ quan tài trợ, các cơ quan kiểm duyệt, kiểm định, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng đào tạo. Mỗi quan điểm khác nhau đưa ra khái niệm về chất lượng đào tạo khác nhau. Một số khái niệm thường được đề cập gồm: Chất lượng là sự phù hợp giữa các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật); Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng và chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường học theo Nguyễn Thanh Khanh (2019).2 Quan điểm về chất lượng giáo dục đào tạo Có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa chất lượng đào tạo.
Harvey và Green (1993) cho rằng chất lượng đào tạo có thể tập hợp thành 5 nhóm quan điểm về chất lượng như sau: (1) Chất lượng là sự vượt trội, (2) Chất lượng là sự hoàn hảo, (3) Chất lượng là phù hợp với mục tiêu, (4) Chất lượng là giá trị đồng tiền và (5) Chất lượng là sự chuyển đổi. Theo Nguyễn Đức Chính (2002) hiện nay trên thế giới có 06 quan điểm về chất lượng giáo dục đào tạo như sau: Chất lượng được đánh giá “đầu vào”: Theo quan điểm này, một trung tâm đào tạo có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều học viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có cơ sở vật chất tốt và trang thiết bị hiện đại. Tuy nhiên, theo quan điểm này, sẽ khó giải thích trường hợp một trường có nguồn lực dồi dào nhưng chỉ có hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho học viên một chương trình đào tạo hiệu quả. Chất lượng được đánh giá “đầu ra”: Trung tâm đào tạo có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều học viên tốt nghiệp giỏi, nhiều khóa học thu hút người học.
Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Trung tâm đào tạo có chất lượng cao nếu tạo được sự khác biệt lớn trong sự phát triển về kiến thức và kỹ năng cá nhân học viên sau quá trình đào tạo. Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Trung tâm đào tạo có chất lượng cao nếu có được đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có uy tín lớn. Tuy 10 nhiên liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy.