Chương 1: Cơ sở lý thuyết về các nghiên cứu về RRPS của công ty và các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Các nghiên cứu về rủi ro phá sản đi trước và tìm ra khoảng trống trong các nghiên cứu. Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu các tác động ảnh hưởng đến rủi ro phá sản Chương 4: Khuyến nghị các giải pháp cho công ty để tránh rủi ro phá sản 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Mối tương quan giữa các yếu tố (Tỷ giá thanh toán hiện hành, Yếu tố vĩ mô, Đòn bày tài chính, Quy mô doanh nghiệp, Khả năng sinh lời, Tỷ 4 lệ đầu tư tài sản cố định, Vòng quay khoản phải thu) và RRPS.
Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi nghiên cứu về không gian : Bài nghiên cứu gồm 361 công ty ngành nghề khác nhau hoạt động ở sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM như: Ngành Dầu khí, ngành Công nghiệp, ngành Bất động sản, ngành Du lịch và giải trí, ngành Y tế, ngành Công nghệ thông tin, ngành Bán lẻ, ngành Viễn thông, ngành Xây dựng vật liệu, ngành Năng lượng, ngành Hàng cá nhân & Gia dụng, ngành Nông nghiệp. + Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tài khoá luận có số liệu được xử lý và thu nhặt từ các DN niêm yết và hoạt động trong giai đoạn 5 năm liên tiếp từ 2017 đến cuối năm 2022. Phương pháp nghiên cứu Về phương pháp nghiên cứu của bài khoá luận, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu là phân tích theo định lượng và định tính. Tác giả sử dụng định tính để tổng hợp và so sánh sự tác động của các yếu tố đến RRPS.
Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng phương pháp định lượng qua các mô hình hồi quy Pooled OLS, mô hình cố định FEM, mô hình biến ngẫu nhiên REM, mô hình hiệu chỉnh GLS để tìm ra được yếu tố có ý nghĩa thống kê với RRPS trong giai đoạn 2018-2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO PHÁ SẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI RỦI RO PHÁ SẢN 1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro và rủi ro phá sản 1. Khái niệm về rủi ro Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu như ai cũng có thể biết đến phạm trù này.Tuy nhiên lại không có một quan điểm thống nhất nào về rủi ro.
Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kể đến như: Allan Willett (1901) cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi. Theo Irving Pfeffer (1974) thì rủi ro là: “Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”. Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Frank H.
Knight (1921): “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”. Theo sách Kinh tế học hiện đại của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng có đề cập đến. Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro thường xảy ra khiến con người không thể dự đoán chính xác được kết quả bởi sự bất định của nó gây ra.
Xét trong phạm vi doanh nghiệp, rủi ro là trường hợp xảy ra các sự kiện không được mong đợi, tác động ngược lại với thu nhập và vốn đầu tư. Trong hoạt động kinh doanh, khi có rủi ro thường dẫn đến sự thiệt hại về tài chính ở mức độ khác nhau đối với DN, có thể kể đến một số loại rủi ro cơ bản như sau: Rủi ro kinh doanh: là rủi ro trong các hoạt động kinh doanh chưa xem xét đến các ảnh hưởng của các khoản nợ vay và được đo lường bởi lợi nhuận trước thuế và lãi vay ví dụ như: hàng hóa được tiêu thụ trên thị trường không phù hợp với thị yếu người tiêu dùng dẫn đến không tiêu thụ được nguồn hàng, đầu ra bị trì trệ dẫn đến không thu hồi được doanh thu. Rủi ro tài chính: là rủi ro mà các DN phải gánh chịu thêm do DN đó sử dụng các khoản nợ, rủi ro phát sinh từ độ nhạy cảm của các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, giá cả hàng hóa, tỷ giá và đòn bẩy tài chính. Khải niệm về rủi ro phá sản Rủi ro phá sản: được coi là toàn bộ những tác động không mong muốn ảnh hưởng đến sự tồn tại, làm mất khả năng chi trả, hoạt động bình thường của nhà kinh 6 doanh.
Nói cách khác rủi ro phá sản mô tả khả năng một công ty sẽ bị vỡ nợ vì không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ của mình. Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế. Nó không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, quốc gia và nền kinh tế thế giới. Rủi ro phá sản và rủi ro tài chính thường có mối liên hệ với nhau, nhất là trong điều kiện sự vay nợ kéo theo việc trả một khoản chi phí và như vậy sẽ làm tăng RRPS.
Hầu hết phá sản là rủi ro vì nó là điều không mong đợi của bất kỳ DN nào. Phá sản được coi là biện pháp cuối cùng để giải thoát trách nhiệm cho người chủ DN. Rủi ro phá sản có thể hiện hữu ở tất cả các giai đoạn trong quá trình tồn tại và phát triển của công ty. Sự xuất hiện của rủi ro phá sản là tất yếu khi hoạt động tài chính yếu kém, nguồn lực của doanh nghiệp bị suy giảm và trong môi trường kinh doanh mà DN không kiểm soát được.
Một khi DN rơi vào RRPS sẽ làm cho giá trị của DN giảm sút nghiêm trọng và mức độ rủi ro của DN sẽ vô cùng cao. Do vậy, việc phân tích RRPS sẽ giúp chúng ta chủ động trong các quyết định kinh doanh, dù đứng dưới góc độ là nhà quản lý DN, nhà đầu tư hay các tổ chức tín dụng. Đo lường rủi ro phá sản 1. Mô hình Z-core Altman (1968) đưa ra mô hình sử dụng phương pháp phân tích đa biệt thức đã khắc phục vấn đề mâu thuẫn giữa các chỉ số kế toán trong mô hình đơn biến trước đó của Beaver (1966).
Mô hình đó nhiều tác giả nước ngoài và cả Việt Nam sử dụng để đánh giá RRPS như: Abiola & Ashamu (2012); Durana và cộng sự (2021); Tùng và Phụng (2019). Hệ số đo lường nguy cơ phá sản còn được biết đến là mô hình Z-Score. Đây là công thức của 5 tỷ số tài chính cơ bản. Mô hình này giúp xác định sức khỏe tài chính của một công ty.
Đặc biệt, nó là một mô hình xác xuất để sàng lọc nguy cơ phá sản của một công ty. Phương pháp luận này có thể được sử dụng để dự đoán khả năng mà một tổ chức kinh doanh lâm vào tình trạng phá sản trong một thời gian nhất định, chủ yếu là trong khoảng 2 năm. Phương pháp này thành công trong việc dự 7 đoán tình trạng khó khăn tài chính ở mọi công ty. Hệ số nguy cơ phá sản có thể giúp đo lường sức khỏe tài chính của một tổ chức kinh doanh.
Bằng cách sử dụng nhiều giá trị bảng cân đối kế toán và thu nhập doanh nghiệp. Edward Altman đã phát triển và giới thiệu công thức điểm Z vào cuối những năm 1960 như một giải pháp cho quá trình tốn thời gian và hơi khó hiểu mà các nhà đầu tư phải trải qua để xác định mức độ “gần đến mức phá sản” của một công ty. Trên thực tế, công thức Z-score mà Altman phát triển đã thực sự cung cấp cho các nhà đầu tư ý tưởng về tình hình tài chính tổng thể của một công ty. Trong nhiều năm, Altman tiếp tục đánh giá lại điểm số Z của mình.
Từ năm 1969 đến năm 1975, Altman đã xem xét 86 công ty đang gặp khó khăn. Từ năm 1976 đến 1995, ông đã quan sát 110 công ty. Cuối cùng, từ năm 1997 đến năm 1999, ông đã đánh giá thêm 120 công ty. Từ những phát hiện của ông, người ta tiết lộ rằng Z-Score có độ chính xác từ 82% đến 94%.
Vào năm 2012, Altman đã phát hành một phiên bản cập nhật của Z-score, được gọi là Altman Z-score Plus. Nó có thể được sử dụng để đánh giá các công ty nhà nước và tư nhân, các công ty sản xuất và phi sản xuất. Kết quả ban đầu được phát hành vào năm 1968. Nó được thiết kế đặc biệt cho các công ty sản xuất đại chúng có tài sản trên 1 triệu đô la.
Mô hình ban đầu loại trừ các công ty tư nhân và các công ty phi sản xuất có tài sản dưới 1 triệu đô-la. Theo đó, công thức cho mô hình này để xác định xác suất một công ty phá sản là: Altman Z-Score = 1,2X1+ 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5 5 tỷ lệ tài chính được sử dụng để tính toán công thức tính Altman Z-Score này như sau: X1: Vốn lưu động / tổng tài sản X2: Lợi nhuận giữ lại / tổng tài sản X3: Thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT) / tổng tài sản X4: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu / tổng tài sản X5: Tổng doanh thu / tổng tài sản Điểm Z trên 2,99 cho thấy rằng một công ty đang ở trong Vùng An toàn (chỉ dựa trên các số liệu tài chính).Điểm Z từ 1,8 đến 2,99 nằm trong Vùng xám, điều này cho thấy có nhiều khả năng công ty sẽ phá sản trong vòng hai năm hoạt động tiếp 8 theo. Điểm Z dưới 1,80 nằm trong Vùng Khó Khăn, điều này cho thấy khả năng gặp nạn cao trong khoảng thời gian này.