CHƯƠNG 1 Chương này giới thiệu tổng quan về nghiên cứu: Cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tế của nghiên cứu, tổng quan các công trình nghiên cứu, nội dung nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về nông thôn, nông nghiệp và nông hộ Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, hội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã (Khoảng 1, điều 3, Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2015 và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 09 năm 2018 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị địng 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn). Căn cứ Luật các tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 06 năm 2015. Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 06 năm 2010.
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 06 năm 2010 và Luật sửa đổ bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017. Nông nghiệp: Là phân ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản (Khoảng 2, điều 3, Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm2015). Nông dân: Theo đại từ điển tiếng Việt Nam, nông dân là người sống bằng nghề làm ruộng, phương thức sống của họ là hoạt động sản xuất gắn liền với dất đai (trồng trọt, chăn nuôi). Nông dân là chủ thể trong lĩnh vực hoạt dộng nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Nông hộ: Là một hay nhiều người cùng sống chung trong một gia đình ở nông thôn được chính quyền địa phương quản lý chung trong cùng một sổ hộ khẩu, có nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp. Ellis (1993) định nghĩa nông hộ là những hộ gia đình mà kế sinh nhai của họ có nguồn gốc chủ yếu từ nông nghiệp, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào công việc sản xuất nông nghiệp. Theo Norton (1993), nông hộ là hộ gia đình mà thu nhập của hộ đó phụ thuộc vào lao động nông nghiệp, quản lý nông sản và tổ chức tiêu dùng. Các nông hộ sẽ sản xuất ra sản phẩm của mình cho tiêu dùng của chính mình và thị trường.
6 Và trong nghiên cứu này thì nông hộ nuôi cá tra là các hộ gia đình mà thu nhập của hộ đó phụ thuộc vào hoạt động nuôi cá tra.2 Tổng quan về tín dụng nông hộ 2.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng Ngân hàng Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng vừa là bên đi vay vừa là bên cho vay. Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán. Theo khoản 14 và 16 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Nói cách khác, nếu xem xét tín dụng Ngân hàng như một quá trình, có thể phát biểu tín dụng Ngân hàng là sự vận động của giá trị vốn lần lượt qua ba giai đoạn: - Giai đoạn cho vay: Chuyển giao cho bên đi vay một lượng giá trị nhất định biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật. - Giai đoạn sử dụng vốn: Bên đi vay sử dụng tạm thời tài sản trên trong một thời gian nhất định, hết thời gian thoả thuận, bên đi vay phải hoàn trả lại cho bên cho vay. - Giai đoạn hoàn trả: Sau thời gian sử dụng vốn vay bên đi vay phải hoàn trả cho bên cho vay một giá trị vốn lớn hơn giá trị lúc cho vay. Phần chênh lệch đó có thể xem là lợi tức của bên cho vay.
Tín dụng Ngân hàng chứa đựng một số đặc điểm như sau: 7 - Về đối tượng dùng để cấp tín dụng: Được thực hiện chủ yếu dưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ. - Chủ thể trong quan hệ tín dụng Ngân hàng: Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng, người đi vay là các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân; người cho vay là các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng. - Quá trình vận động và phát triển của tín dụng Ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với qui mô phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Vì tín dụng Ngân hàng được cấp dưới hình thái tiền tệ có thể đáp ứng các nhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa.2 Cho vay nông hộ 2.1 Khái niệm cho vay Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.2 Nguyên tắc vay vốn Việc sử dụng vay vốn ngắn hạn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để Ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động. Tuy nhiên, cấp tín dụng liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Nói chung, khách hàng vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên tắc a) Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng - Về phía Ngân hàng: Trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không. Điều này rất quan trong vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay sau này.
8 - Về phía khách hàng: Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho Ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với Ngân hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và Ngân hàng sau này. b) Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà Ngân hàng sử dụng để cho vay.
Đại đa số nguồn vốn mà Ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền. Do đó, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho Ngân hàng để Ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền. Bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi.3 Giới hạn và hạn chế cho vay Trong hoạt động tín dụng, NHTM bị giới hạn cho vay theo quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn. Các giới hạn tín dụng khi cho vay ngắn hạn bao gồm: - Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của Ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoảng cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân.
Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của Ngân hàng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn thì các Ngân hàng có thể cho vay hợp đồng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Trong trường hợp đặc biệt, Ngân hàng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn cho vay theo quy định vừa nêu khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể. - Việc xác định vốn tự có của các Ngân hàng để làm căn cứ tính toán giới hạn cho vay được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 9 Còn có một số hạn chế như Ngân hàng không được cho vay không có đảm bảo, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất về mức cho vay đối với những đối tượng sau đây: - Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng cho vay; Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay, Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay - Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng - Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.
Ngoài những giới hạn và hạn chế tín dụng như vừa trình bày Ngân hàng còn không được cho vay trong những trường hợp sau đây: - Thành viên Hội đồng quản trị, Bản kiểm soát, Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc của các tổ chức tín dụng. - Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định.