Chương 1 TONG QUAN 1. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 1. Nghiên cứu nước ngoài Amin (2010), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định của khách hang trong việc sử dụng ATM của ngân hang Haji Tabung, Malaysia. Mục đích của nghiên cứu này cung cấp một điều tra sơ bộ những yếu tố xem liệu khách hàng của ngân hàng Tabung Haji sẽ sử dung hay không một ứng dụng mới được giới thiệu, cụ thé là máy rút tiền tự động hay may ATM ngân hàng.
Mohammed (2012), nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến nhu cau sử dụng ATM của khách hàng tại An Độ, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ ATM của khách hàng, bằng cách phân tích mẫu các câu trả lời của 450 người tiêu dùng, những người đã được phỏng vấn cá nhân thông qua cuộc khảo sát cấu trúc trong 3 huyện của bang Uttar Pradesh, An Độ. Kết quả cho thay trình độ giáo dục và điều kiện làm việc của khách hàng nam giới thuộc nhóm có thu nhập cao hơn và có một tài khoản ngân hàng tốt hơn trong ngân hàng khu vực công cộng sử dụng các dịch vụ ngân hàng nhiều hơn. Luarn và Lin (2007) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ ATM của khách hàng. Nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tô ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ ATM của khách hàng.
Theo tác giả, có 3 van dé ảnh hưởng đến hành vi của khách hàng đó là van đề về các loại phí (bao gồm phí trực tiếp như phí phát hành, phí giao dịch., và phí gián tiếp như phí bảo hành hàng năm.); các vẫn đề liên quan đến hoạt động và chức năng của sản phẩm thẻ ATM; các vấn đề liên quan đến chiến lược như sự khác biệt đối với sản phẩm cạnh tranh, chi phí chuyền đổi, dich vụ chăm sóc khách hàng. Nghiên cứu trong nước Đỗ Hùng Mạnh (2011), nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dich vụ chi trả lương hưu qua tài khoản ATM trên địa bàn thành phố Ha Nội. Dé đánh giá chất lượng dich vụ chi trả lương hưu qua tài khoản ATM, tác gia đã dựa trên 5 yếu tố dé phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ chi trả lương hưu qua tài khoản ATM: sự tin cay, sự đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cam, sự hữu hình; đối với chất lượng dịch vụ ATM do Ngân hàng thực hiện là: số lượng máy ATM của ngân hàng bồ trí chưa nhiều, chỉ tập trung chủ yếu tại những đường phố chính, khu đông dân cư, trung tâm mua sắm nên không thuận tiện cho người hưởng lương hưu rút tiền. Các dịch vụ tiện ích được đưa ra rất nhiều nhưng ngân hàng không chủ động giới thiệu, hướng dẫn người hưởng lĩnh lương hưu qua tài khoản ATM đăng ký sử dụng.
Tình trạng nghẽn mạch, hết tiền, không phục vụ, hở điện, các tra soát, khiếu nại liên mạng thời gian giải quyết rất lâu. Rút tiền tại máy ATM của hệ thống ngân hàng khác bị mắt phí hoặc khi không rút tiền được tại máy ATM mà thực hiện rút tiền tại quầy giao dịch bị mất phí. Ở nhiều nơi do vấn đề an ninh nên máy ATM không phục vụ 24h/ngày. Nguyễn Mạnh Tú (2013), nghiên cứu một số nhân tô ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ ATM dé nhận lương hưu của cán bộ hưu trí tại thành phó Nha Trang.
Nghiên cứu này đã đạt được mục tiêu đề ra khi nhận diện được một số nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ ATM dé nhận lương hưu của cán bộ hưu trí. Ban đầu 10 nhân tố gồm: thái độ về việc sử dụng thẻ ATM, kỳ vọng của gia đình, cảm nhận hành vi xã hội, quan tâm sức khỏe, kiểm soát hành vi cảm nhận, trách nhiệm đạo lý, kiến thức về ATM, cảm nhận rủi ro, cảm nhận sự thuận tiện, thói quen sử dụng tiền mặt và hỗ trợ xã hội đưa vào mô hình nghiên cứu được tác giả kỳ vọng sẽ có ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ ATM dé nhận lương. Nghiên cứu này chỉ ra các nhân tố: thái độ, cảm nhận rủi ro, kiến thức về ATM và hỗ trợ xã hội có ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ ATM dé nhận lương hưu của cán bộ hưu trí tại thành phố Nha Trang; trong khi đó ở nghiên cứu nảy các nhân tố: quan tâm sức khỏe, kỳ vọng của gia đình, trách nhiệm đạo lý và thói quen sử dụng tiền mặt được tác giả kỳ vọng có ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ ATM nhưng với phạm vi nghiên cứu hẹp, số lượng mẫu nhỏ đã không tim thấy sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến ý định sử dung thẻ ATM để nhận lương hưu của cán bộ hưu trí tại thành phố Nha Trang. Lưu Thị Mỹ Hạnh (2013) thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận va sử dụng dich vụ thé Techcombank tại thành phố Đà Nẵng.
Công trình đã trình bày cơ sở lý luận về sự chấp nhận và sử dụng dịch vụ thẻ ngân hàng, thực trang dịch vụ thẻ Techcombank tại Thành Phố Đà Nẵng. Đồng thời công trình cũng tiến hành khảo sát thực tế khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ techombank tại Thành Phố Đà Nẵng, qua đó đưa ra kết luận và kiến nghị với Techcombank Da Nẵng nhằm phát triển địch vụ thẻ tại Thành Phố Đà Nẵng. Tom tắt nhân tố các nghiên cứu trước thé hiện ở Bảng 1.1; Phụ lục 6 Trong giới hạn của đề án, tác giả đã tìm hiểu và tham khảo một số nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước. Với nhiều bối cảnh khác nhau, quy mô nghiên cứu khác nhau, các tác giả tập trung nghiên cứu chủ yếu vào những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ, cũng như việc ứng dụng công nghệ trong thanh toán các dịch vụ.
Tuy nhiên có rất ít những đề tài và bài viết với nội dung liên quan đến vấn đề mà tác giả nghiên cứu, kết hợp với các nhân tố từ kết quả của các nghiên cứu trước có liên quan nhằm phản ảnh đầy đủ hơn các khía cạnh cần nghiên cứu dé tăng cao giá trị giải thích hành vi thực tiễn liên quan đến việc nhận tiền qua thẻ ATM của người thụ hưởng chế độ BHXH tại huyện Ninh Phước, tinh Ninh Thuận. Tổng quan về BHXH 1. Khái niệm Theo Luật BHXH: đây là biện pháp Nhà nước sử dụng dé đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia BHXH khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khoẻ, mat khả năng lao động, mat việc làm, hết tuổi lao động, chết. Theo định nghĩa của tô chức lao động quốc tế: BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mat hoặc giảm thu nhập gây ra bởi 6m đau, mat khả năng lao động, tuổi già, tàn tat và chết.
Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết. Định nghĩa này phản ánh một cách tổng quan về mục tiêu, bản chất và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia. Mục tiêu cuối cùng của BHXH là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mọi người. Theo từ điển bách khoa Việt Nam: BHXH là sự dam bao thay thé hoặc bù dap một phan thu nhập đối với nguời lao động khi ho gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất, già yêu, mat việc làm, trên cơ hình thành một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo đúng pháp luật.
Nhằm bảo đảm an toàn, ôn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp: Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mat việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên co sở đóng vào Quỹ BHTN (Khoản 4, điều 3 Luật việc làm 2013). Vai trò của BHXH Theo Nguyễn Văn Định (2005), BHXH góp phan ổn định đời sống của người lao động tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mắt khả năng lao động, mắt việc làm hoặc chết.
Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng những tốn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ôn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường. BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Nhà nước ban hành các chế độ. chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH.
Người sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp dé hình thành quỹ BHXH. Người lao động và gia đình họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi có đủ điều kiện theo quy định. Từ đó tạo được niềm tin của người lao động đối với người sử dụng khuyến khích người lao động phan khởi, tinh thần trách nhiệm của họ cũng được nâng lên trong lao động sản xuất. BHXH góp phần thúc đây tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Một mặt quỹ BHXH được sử dụng dé chi trả các chế độ BHXH cho ban thân và gia đình người lao động, mặt khác phần quỹ nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Xét cả hai mặt trên thì hoạt động của quỹ BHXH đều nhằm thúc đây tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, phân phối trong BHXH là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho người có thu nhập thấp, là sự chia sẻ giữa những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ôn định cho những người 6m yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống. Từ đó, BHXH làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phan bảo đảm sự công bằng xã hội.
Các chế độ BHXH Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, chế độ BHXH nước ta hiện nay gồm: ché độ BHXH bắt buộc và chế độ BHXH tự nguyện.